Đóm lửa Quê Hương
- Phan Thiết Phạm Đình Thừa -
Nửa đời trước, tôi là lính -một mẫu lính đúng nghĩa gian lao và khổ hạnh. Hầu như suốt hành trình 13 năm, đôi chân bé nhỏ chỉ xử dụng để đo từng tấc đất quê hương. Cũng chính ân sủng này đã cho tôi cơ hội thấy rõ quê hương mình. Hoàng hôn khuất bóng, rút quân về muộn, giữa cánh đồng ngập nước bao la vùng đồng bằng sông Cửu Long, ánh đèn lưa thưa nhạt nhòa trong màn mưa trên Quốc lộ 4 đã trở thành tín hiệu của niềm hạnh phúc hồi sinh -qua hết một ngày chưa ngã xuống. Nửa khuya di quân, sâu trong thôn bản dọc đường 14, giữa núi rừng Cao Nguyên, đóm lửa mờ tỏ của căn nhà sàn tít mù thăm thẳm phía trước như mục tiêu của sự sống giữa trùng trùng nỗi chết không rời. Trên dãy Trường Sơn bạt ngàn cây rừng Lâm Đồng, hàng đèn Sông Mao phía Đông, nơi có biển xanh và chốn chào đời, đã trở thành động lực tự tồn…Đóm lửa quê hương, một nhiệm mầu trong niềm hạnh phúc nhỏ nhoi.

Nửa đời sau, lái xe xuyên bang nước Mỹ, đêm vượt đèo, dãy núi hùng vĩ đen thẩm, sừng sửng nổi bật giữa bầu trời trong vắt đầy ánh sao và thấp thoáng ánh đèn xa xa, tưởng như đang đi vào vùng giông bão quê hương ngày cũ. Nghe như có tiếng quân reo, có tiếng đạn bay và trong một thoáng, ánh đèn khuya đất khách bỗng trở thành trìu mến như đóm lửa quê nhà!    

Đã hơn 31 năm biệt xứ, chưa một lần thấy lại đóm lửa quê xưa! Đây là bi kịch của đời sống (cá nhân tôi) và trên phương diện «luật người», đó là bản án do chính tòa án lương tâm tôi phán quyết. Bởi vì, không tòa án nào của bất kỳ một thể chế cai trị nào áp đặt được nó lên thân phận người lính còn cố giữ lại điểm liêm sỉ cuối đời. Thời gian với khả năng bồi đắp và đào thải cao độ đã nung nấu ý chí bao người nhưng cùng lúc, cũng thiêu rụi hết nhiệt tình nóng bỏng thuở ra đi -đóm lửa quê hương tắt lịm tự bao giờ, chỉ hằn đọng trong mắt «đóm lửa quê người»!

«Đèn nhà ai hay đóm lửa quê người…»

Câu hát này, tôi bất chợt đọc được từ bài viết của nhà văn Giao Chỉ, quan sáu Vũ Văn Lộc: «Này em, anh sẽ về bên kia biên giới. Đèn nhà ai hay đóm lửa quê người.» Bài viết với tựa «Đóm Lửa Quê Người» (ĐLQN) giới thiệu quyển hồi ký «Hành Trình Người Đi Cứu Nước» (HTNĐCN) của tác giả, kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng trong đoàn quân Đông Tiến của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh (MT). Tôi cũng đã có mặt ở cuối gian phòng ra mắt sách tại San José ngày 30 tháng 9 năm 2006 để nhận ra có cái gì đó thiêu thiếu trong lời giới thiệu người và sách của nhà văn Giao Chỉ, trước con số khoảng hai trăm người tham dự. Lời giới thiệu quá ngắn (và có vẽ như hết dầu, thiếu lửa?) so với bài viết được phổ biến trước đó:
«Với tấm lòng chân thành muốn tìm hiểu lịch sử trong đời sống hiện tại, tôi xin giới thiệu tác phẩm giá trị này đến qúy độc giả.»
Và:
«Anh đã dâng hiến tất cả tương lai, hy vọng và tuổi thanh niên cho lý tưởng. Anh đã tìm thấy ở Kháng Chiến cả mộng lẫn thực. Bình tĩnh và công bình, tác giả ghi lại những đau thương dằn vặt của từng chiến binh và người lãnh đạo không phải bằng lời nói mà bằng các hành động.»  (trích từ bài viết  ĐLQN của Giao Chỉ)

Những câu tán tụng vừa nêu đã mất dấu trong lời phát biểu trước người tham dự. Chỉ có lời cảnh báo cử tọa, đại khái: «Tác phẩm là một loại dầu thô chưa gạn lọc, độc gỉả phải đóng vai chiếc máy lọc dầu». Nếu đã bình tĩnh viết lại (như ông Vũ Văn Lộc trong bài viết) và trung thực (theo ông Đỗ Thông Minh trong buổi ra mắt sách) thì người đọc không phải vất vả -hao dầu, tốn xăng- làm công việc của một «máy lọc». Tôi đã đọc HTNĐCN và đã là lính đánh giặc, tôi xin được nói lên lời cảm thông sâu xa với tác giả. Tuy nhiên, bài viết này không mang tính chất phê bình tác phẩm, cũng không mang tham vọng thêm vào mớ nhận định về Mặt Trận vốn đã quá dài và cũng quá lâu từ phía đồng bào ta tại hải ngoại. Đối với một số quý vị mà tâm tình còn trĩu nặng với nước non, Mặt Trận đã trở thành vết thương lòng lâu lâu rỉ máu. Người viết xin được nghiêng mình chia xẻ và chỉ muốn nói lên đôi điều suy nghĩ với người «lính» Vũ Văn Lộc và nhà văn Giao Chỉ.

Qua bài viết ĐLQN, với những đoạn tổng kết về các chiến dịch Đông Tiến của Mặt Trận, người đọc thấy được điều ông Vũ Văn Lộc muốn nêu lên: Thất Bại! -"Một lần Đông Tiến là một lần thương vong.", cùng với nhận định hành quân của một sĩ quan cao cấp thuộc QLVNCH:

«Trận chiến hoàn toàn không cân xứng. Đi vào đất địch với quân số ít ỏi. Không có phương tiện liên lạc. Địch không đánh quân ta cũng chết đói, chết khát. Địch tấn công với quân số gấp 10 lần. Quân ta chết là may mắn, bị thương là không có phương tiện cứu chữa.»

Và:

«Đi như thế không bị địch đánh thì cũng chết. Dù về đến đất Kontum thì cũng không thể mở được đầu cầu. Cho dù mở được đầu cầu thì làm gì có đại binh theo sau.»  

Kết quả thất bại của những lần Đông Tiến nói lên một điều nghịch lý trong suy luận chiến thuật và đã đặt ra câu hỏi không những cho quan sáu Lộc mà còn cho nhiều người từ nhiều năm nay. Câu hỏi đã được trả lời theo lập luận và góc nhìn khác nhau. Riêng ông Vũ Văn Lộc đã tự vấn rồi đưa ra câu trả lời: «Những cuộc hành quân gian khổ, điên cuồng như thế mang ý nghĩa gì? Ông Minh rõ ràng chỉ muốn tìm về chết tại quê hương.»

Trên phương diện «người lính», đây là điều người viết muốn đề cập. Ông Hoàng Cơ Minh có thể «chỉ muốn tìm về chết tại quê hương» như ông Vũ Văn Lộc cho là vậy; thế nhưng, ngoài ông Hoàng Cơ Minh, trong đoàn quân Động Tiến, còn có những cấp chỉ huy dạn dày chiến trận, những người không chỉ cúi đầu nhận lệnh và dĩ nhiên họ không bao giờ mang ước vọng của Bàng Hồng (đời Tam Quốc mang hòm ra trận) để chỉ được chết trên quê hương. Vả chăng, bảng hiệu của phong trào Hoàng Cơ Minh là «Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia» chứ không phải «Mặt Trận Tìm Chết Trên Quê Hương». Vậy thì, phải chăng đã có một thỏa ước, một đầu cầu bảo đảm khả dĩ an toàn cho một quân số ít ỏi kia?

Sự bảo đảm cho các hoạt động trên đất Thái nhằm vào mục tiêu giải phóng quê hương của cá nhân, tổ chức người Việt vào thập niên 80, tất cả đều đặt vào các thỏa ước bằng mồm với những lãnh chúa Thái (tư lệnh quân khu) thời bấy giờ. Các thỏa ước này chỉ được thực hiện sau khi một khoản tiền thuê đất hằng năm đã nạp đủ. Lãnh cứ to, nhỏ tùy theo mức độ dày mỏng của đô la. Trong các căn cứ «phục quốc» tại biên thùy Thái-Lào-Miên, căn cứ của Mặt Trận được xem là bề thế và to rộng hơn tất cả các căn cứ khác. Điều này không lạ vì quỹ của Mặt Trận trong thời gian này đã rất dồi dào. Sứ mệnh thiêng liêng và cao cả, «quang phục quê hương» (nếu may mắn được quan niệm như vậy), rõ ràng đã đặt căn bản trên những thỏa ước thuê muớn không bảo chứng và vào tay bọn tướng tá đầy tham vọng tiền bạc của vương quốc Thái! Sinh mệnh của những người trẻ muốn quay về nhìn thấy lại đóm lửa quê hương tự do bùng cháy trong an bình như ông Phạm Hoàng Tùng (thời ấy) dĩ nhiên như ngọn đèn trước gió, được đặt vào canh phé tẩy xấc sắp tàn. Vào những năm của thập niên 80, lo sợ trước thực tế bị xâm lăng như Kampuchia, Thái Lan đã cố gắng bằng mọi phương cách ngăn chận bước Tây tiến của đoàn quân viễn chinh cộng sản Việt Nam. Chính vì vậy, chính quyền Thái đã làm ngơ trước thủ đoạn hối lộ của các tư lệnh vùng, bởi vì các căn cứ biên thùy của người Việt đã trở thành những con chốt, những tiền đồn, điểm báo động, một loại «nhất kiếm trấn ải» mà Thái lan không phải tốn tiền bạc và công sức xây dựng! Trên phương diện ngoại giao, sự hiện diện của các tổ chức «phục quốc» người Việt đã trở thành món hàng mặc cả đáng giá. Trong cuộc mặc cả, ai ngã giá cao hơn, kẻ ấy sẽ mua được món hàng. Dù tiền bạc của người hải ngoại đổ vào công cuộc «giải phóng» của Mặt Trận dồi dào đến đâu, chắc chắn cũng không qua được số ngân lượng mà cộng sản Việt nam chi ra, Thêm vào đó, cũng không thể bỏ qua yếu tố về một cam kết tôn trọng chủ quyền lãnh thổ giữaThái Lan và Việt cộng. Hậu quả bi thảm đã đến qua các cuộc «tế thần» bằng xương máu của người mang ước vọng giải phóng quê hương khỏi xiềng xích đỏ. Việc gì phải đến đã đến cho những cuộc hành quân Động Tiến. Khi sự an toàn củaThái Lan được bảo đảm thì những tiền đồn «phục quốc» không còn lý do tồn tại. Giữa thập niên 90, các căn cứ lớn nhỏ của người Việt trên đất Thái đã biến dạng trong âm thầm, không kèn, không trống, không truyền thanh, truyền hình như lúc khai trương!

Ngoài tác động ngoại tại cũng phải kể đến những chuyển biến nội tại (trên phương diện điều hành, quản trị, và quan niệm) trong tổ chức của Mặt Trận. Hiện tại, chiến trường khét lẹt mùi thuốc súng của các năm Đông Tiến đã được thay bằng «khẩu» trường đầy tranh cải sôi sục nước bọt với một tên mới: Việt Tân.

Đưa ra những nhận xét thô thiển vừa nêu, người viết muốn nói đến sự bào chữa tiêu cực của một sĩ quan đã từng đảm trách những vai trò quan trọng cỡ «pathfinder»:

«Hơn 20 năm trước, Giao Chỉ đã bày tỏ sự ngưỡng mộ với Võ Đại Tôn, Trân Văn Bá và Hoàng Cơ Minh. Thân hữu nói rằng, ông quá cả tin nên dễ bị lừa. Đã xin thưa rằng, tôi muốn ngày nào cũng có người đến lừa tôi về chuyện xây dựng lại non sông.
Hai mươi năm sau, thân hữu lại nói rằng, ông đã yêu lầm tướng cướp. Bèn trả lời rằng: Tình yêu vốn mù quáng. Bây giờ đã già rồi, không thể thay đổi được nữa. Đành xin chịu mù loà để giữ lấy tình yêu.» (ĐLQN)

Tôi không nghĩ rằng khả năng và suy luận quân sự của quan sáu Vũ Văn Lộc đã cạn láng sau cuộc đổi đời bi thảm. Cũng không tin, kiến thức và chữ nghĩa ông Vũ Văn Lộc đã trả lại cho thầy, cho những lớp Tham mưu Trung cấp và Cao cấp để không còn có thể gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh thân hữu mình, đồng đội và đồng bào mình về thủ đoạn bịp bợm của đám con buôn trên mồ hôi, nước mắt và máu xương, thậm chí ngay cả ước vọng thiêng liêng của người khác?

 Nếu không đúng vậy, trên phương diện là người lính cấp cao, ông Vũ Văn Lộc đã phạm vào tội đồng loã (vô tình hay cố ý) qua mớ ngôn từ kêu-gọi-nước-mắt xót thương nêu trên. Niềm tin (rất) mãnh liệt của đồng bào hải ngoại về một ngày quang phục quê hương, sau khi bỏ nước ra đi vào tháng 4 năm 75, đã bị phá sản vì tổ chức của ông Hoàng Cơ Minh -một hệ lụy thê thảm mà bất cứ ai cũng nhận rõ. Nhóm từ «giải phóng đất nước», «quang phục quê hương» có lúc được người ta đem ra chế diễu, nguyền rủa -bởi vì đâu?!
Đành rằng, bất cứ hy sinh nào trên lối về quê hương để mưu tìm sự giải thoát dân tộc khỏi móng vuốt bầy quỷ đỏ cũng đều phải được tôn kính và ngưỡng mộ như trường hợp của vị tướng can đảm, ông Hoàng Cơ Minh. Thế nhưng điều cần nói lên là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết này vẫn là sự sai lầm nghiêm trọng về chiến lược từ tổ chức do chính ông tạo ra. Đây là sự kiện cần được những người lính có tầm cỡ như ông Vũ Văn Lộc phân tích để cảnh báo cùng đồng bào hải ngoại. Chẳng những đã không làm vậy, ông Lộc lại bước xuống, đóng vai người lính đa đoan, đóng đồn xa «nếu mai không nở, anh không biết Xuân về hay chưa» qua mớ mỵ ngữ tình cảm! «Non sông dễ đổi, bản tính khó chừa», 20 năm trước hay 20 năm sau, người lính Vũ Văn Lộc vẫn không bao giờ thay đổi trong niềm hãnh diện mãnh liệt về công tác hiếm hoi «pathfinder» vào những ngày gần cuối cuộc chiến.

Điểm quan trọng nhất của toàn bài viết nằm trong quan niệm về đấu tranh của ông Vũ Văn Lộc:

«Trong công cuộc đấu tranh cho Việt nam bây giờ và sau này. Dù bằng chính trị hay bằng những phương thức khác. Dù giải phóng rồi canh tân hay dù canh tân rồi giải phóng. Dù đúng hướng chính thống hay chệch hướng hòa giải thì điều quan trọng là phải tồn tại. Bất cứ với giải pháp nào ta không thể cứu nước nếu ta không tồn tại và tiếp tục hoạt động.» (ĐLQN)  

Đoạn văn vừa trích gợi cho người viết nhớ lại câu nói của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Làm chính trị là phải lì. Qua chủ từ «ta», ông Vũ Văn Lộc nêu lên lời nhắn nhủ và dạy dỗ những phong trào, tổ chức đấu tranh với cộng sản Việt Nam: phải lì, phải bất chấp mọi thủ đoạn, gạt qua một bên ước nguyện của những người mà mình vỗ ngực đại diện -phải tồn tại dù bị nguyền rủa, tẩy chay! Phải chăng để giải phóng cái giải rút, mớ gia sản cuối cùng còn sót lại của người đàn bà cùng đinh đói lạnh nằm co ro qua đêm Đông miền Bắc, trong công viên Mai Xuân Thưởng?  Một tổ chức gọi là đấu tranh chống cộng lại đi ngược chủ trương khởi xướng ban đầu, bất chấp nguyện vọng của bao người thì sự tồn tại có còn cần thiết không và phải được hình dung như thế nào đây? Đó chẳng qua chỉ là tập họp một đám sơn đông mãi võ, trưng đầu Dê bán thịt Chó.  Một tổ chức đấu tranh, với trường hợp Việt Nam hiện tại, lại đi bắt tay với cộng sản để canh tân, rồi giải phóng thì giải phóng kí gì đây Đại tá Vũ Văn Lộc?«Chệch hướng hòa giải» -đã mặc nhiên thừa nhận việc hòa giải với khỉ là chệch hướng thì tại sao không điều chỉnh để đi vào «hướng chính thống» trước khi nghĩ đến việc cố bám để tồn tại? Đây lại là một điểm nghịch lý mà chỉ có những kẻ muối mặt, khư khư với quyền lợi và tham vọng cá nhân mới đủ can đảm thực hiện. Bài học hòa giải với cộng sản dẫy đầy trong lịch sử đấu tranh Quốc, Cộng và hiển hiện trước mắt là hậu quả thê thảm đến với một số người, vì tham lam mà trở thành cô bé choàng khăn đỏ, ngây thơ đi vào miệng sói, trong những năm qua. Phải chăng Đại tá Vũ Văn Lộc đã đánh giá quá thấp trình độ hiểu biết của người Việt hải ngoại khi lên giọng «quân sư» kêu gọi kéo dài sự lường gạt?

Trong lãnh vực báo chí, truyền thông Mỹ có câu: We Report, You Decide -Chúng tôi tường trình, Quý vị quyết định (kết luận). Đây cũng là câu nói cần được xét lại. Bởi vì, chúng tôi «report» nhưng chỉ «report» những điều chúng tôi muốn «report». Những điều chúng tôi không muốn «report» dầu là sự thật sờ sờ trước mắt đi nữa, chúng tôi vẫn không «report». Trường hợp này đã xãy ra trong chiến tranh Việt Nam với đạo quân báo chí hùng hậu của thế giới. Điển hình nhất là bức ảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử quyết thằng du kích sát nhân. Tướng Loan nửa đời, nửa đoạn vì bức hình này. Tên nhiếp ảnh viên Adams, đến phút cuối đời, mới thốt lên lời xám hối muộn màng: hình ảnh chỉ là một phần của sự thật. Một phần sự thật không phải là sự thật!

Trên phương diện văn học, xã hội Việt Nam, từ rất lâu, đã dành cho người cầm viết một vị trí thật tôn quý vì họ được quan niệm như lớp người góp phần vào sứ nhiệm khai phóng trí tuệ quần chúng -(Văn Dĩ Tải Đạo). Đáp lại, người cầm viết phải có dũng khí để nói lên sự thật và cùng lúc hướng dẫn dư luận bước đi trong dòng «chính thống» về nẻo Chân, Thiện, Mỹ -cứu cánh của văn chương và nghệ thuật. Dĩ nhiên đòi hỏi này trở thành quá khó khăn đối với kẻ dùng chữ nghĩa để đat ïtham vọng bất chính hay chỉ để thỏa mãn cái hứng khởi nhất thời của chính mình.

Hai điểm vừa nêu, người viết chỉ muốn ghi lại như một nhắc nhở cho nhà văn Giao Chỉ trong buổi hoàng hôn của cuộc đời như ông đã tự thán: «Bây giờ đã già rồi, không thể thay đổi được nữa.»

Không biết nhà văn có thành thật khi đặt bút viết: «Đã xin thưa rằng, tôi muốn ngày nào cũng có người đến lừa tôi về chuyện xây dựng lại non sông.» Bởi vì, mong ngày nào cũng có người đến nhà lừa gạt thì còn làm ăn được gì? Đọc giữa mớ chữ, câu hỏi dấy lên, tại sao không là «tôi muốn ngày nào cũng bị lừa về chuyện xây dựng lại non sông» mà phải là «cũng có người đến lừa tôi về chuyện xây dựng lại non sông»? Tôi lại lan man nhớ đến câu chuyện cá nhân gần hai thập niên trước. Tôi đến gõ cửa nhà người bạn để xin yểm trợ cho các hoạt động tại một quốc gia ngoài Hoa Kỳ (và cũng trong ước vọng quang phục quê hương) của một tổ chức mà tôi và bạn đã xuất thân đi vào cuộc chiến. Bạn đưa tôi 5 tì, trong một bữa nhậu có rượu ngon và đồ nhắm tốt. Hôm sau gặp người bạn khác, ông này cho hay người bạn «bị» quyên góp đã dùng Đức Mã để than phiền rằng, bỏ ra 5 tì cho lương tâm khỏi cắn rứt! Không biết trường hợp này có gần xa trùng hợp với câu văn của nhà văn Giao Chỉ không nhỉ?

Cũng xin được lưu ý, ông Giao Chỉ chỉ muốn bị lừa hằng ngày «về việc xây dựng lại non sông» chứ không phải để đánh bật 3 thằng Việt cộng thổi ống đu đủ ra khỏi quê hương. Trộm chưa bị rượt khỏi nhà, giặc chưa bị đuổi khỏi nước thì việc «xây dựng lại non sông» là hành động đầu hàng nhục nhã mà bất kỳ người nào đã từng cầm súng và còn liêm sĩ không bao giờ có thể chấp nhận. Phải chăng vì vậy mà Chú Nguyễn Hữu Chánh không «lừa» được Đại tá Vũ Văn Lộc? Chú Chánh -ghê bỏ mẹ- cứ ồn ào loa những vụ đặt chất nổ tùm lum tại Việt Nam, không cách chi chiếm được tình yêu (dầu mù lòa) của nhà văn Giao Chỉ: Đành chịu mù lòa để giữ lấy tình yêu.

Với cách nhìn và lối suy luận như vậy của một nhà văn, một cựu sĩ quan cao cấp của quân lực miền Nam, ước vọng nhìn lại đóm lửa quê hương thân yêu của tôi chắc còn khá lâu mới trở thành hiện thực. Vậy thì, chỉ còn nhìn đèn nhà ai để thi vị hóa thành đóm lửa quê mình.

Phan Thiết Phạm Đình Thừa