|
|
|
CỦA VIỆT KIỀU VỀ NƯỚC LÀM ĂN. Bàn về” tàn dư” được thải ra từ” tư bản quí báu của chủ tặc Hồ Chí Minh”, tác động từ nhiều thập niên tại” chuẩn thiên đàng cộng sản” miền bắc sau 1954. Mặt hàng mà các nước Tây Phương” tư bản phản động” chê, cho là mất vệ sinh, không bao giờ dùng, nhưng lại là” mặt hàng chiến lược hàng đầu” của xã hội chủ nghĩa” ưu việt” trong quan hệ sản xuất” nông ngư nghiệp, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc…đó là sự khác biệt giữa xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường: “
Cầu tiêu ta làm nên tất cả.
Với cứt người, đem bón, biến thành cơm”. Do tầm vóc chiến lược và trường kỳ, không phải xuất vốn, lại có sẵn trong” nhân dân” nên” mặt trận cứt” hay còn được gọi là ” mỏ cứt vô tận” khai thác hoài mà không bao giờ hết, nếu còn con người, được đảng và nhà nước chú tâm đặc biệt, là vấn đề sanh tử của mô thức” lấy kinh tế cứt người, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là” sơ sở cơ bản”, thế là mặt trận cứt được gắng liền với đại tướng Nguyễn Chí Thanh, xuất phát từ giới nông dân, gần gũi và thấm nhuần học thuyết Mao Trạch Đông trong sản xuất, được coi là có tư tưởng thân Tàu, nay thằng con trai là trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, vừa được thăng quân hàm thượng tướng, kế tục truyền thống tay sai Tàu trong sự nghiệp thái thú” nghiệp chuyên” không bao giờ thay đổi: “
Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh.
Anh về phân bác, phân xanh đầy đồng”. Từ sau hiệp định Geneve, miền bắc cái gì cũng do đảng và nhà nước” nhất trí” và quản lý chặt chẻ, thế là mặt trận ăn cướp, giết người được phát động qua tiêu đề: ” trí, phú, địa, hào, đào tận gốc” gom hết tài sản, nhân lực, thần thánh, thờ phượng vào tay đảng, ngay cả cứt cũng qui hoạch và điều-phối, giao-hợp theo hiến pháp bá láp: ” Cứt do nhân dân ỉa, nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo” triệt để, vì đây là mặt mạnh trong quan hệ sản xuất theo thuyết” duy vật” của chủ thuyết Marx Lenin, được” triển khai” theo tư tưởng hồ chí minh” yên tinh” làm thất kinh cả nước Việt Nam với đảng cướp gian tham và tàn độc. Do đó:” từ cuộc thắng hôm qua, ta gom hết cứt gắp mười lần qua”. Thế là từ thập niên 1950, ở miền bắc, cứt cũng được” tập thể hóa” dành cho nhà nước và đảng quản lý cũng như” xử lý” nhằm tiến lên thiên đàng cộng sản, người dân phải hiểu theo đúng chính sách cách mạng cướp cạn ban hành:” mình ỉa vì mọi người và mọi người thải cứt vì mình”, như câu thiệu được đảng cho học tập dài dài từ trên xuống dưới, trước năm 1975 và nay vẫn còn áp dụng:” mình vì mọi người và mọi người vì mình”. Từ ngày ” có đảng mới có ngày nay”, ngay cả cái nghề hốt cứt truyền thống của làng Cổ Nhuế bị đảng cướp sạch, thì người dân còn nghề gì để sống, nếu không vào nông trường tập thể để làm công tác:” ỉa cũng góp công xây dựng xã hội chủ nghĩa”. Do đó trong suốt thời gian khá dài, dân hốt cứt” nghiệp chuyên” khốn đốn khôn cùng trong” thoái trào hốt cứt”. Phải đợi đến 1989, đảng mở cửa và đổi mới, lấy công thức phát triển DỊ MÔ:” kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, thế là nghề hốt cứt được phục hồi và phục hoạt và cứt được bày bán tại chợ cứt, được quản lý thị trường, cán bộ địa phương chăm lo và” đảm bảo” mặt hàng cức thiệt, do có một số kẻ gian, học theo lời dạy của hồ chỉ tịch và quan thầy Trung Cộng, ngay cả cứt cũng giả, trong” xã hội chủ giả”, cái gì cũng phải xem kỷ trong tinh thần:” tri giả, tri giả, tri giả”, tức là giải thích” chữ Háng theo nghĩa Đùi” là: biết giả, biết giả…thì đừng vớ đồ giả…. Trong” chất lượng” cứt, được phân thành 4 hạng, tùy theo” tình huống” của những người” ỉa” do ăn ngon, giàu nghèo, giai cấp, mà sinh ra cứt tốt, xấu: “
Dân nghèo ỉa cứt lỏng le.
Cán giàu phóng uế, vàng khè cứt cao”. Theo dân bán cứt nhà nghề, các loại cứt được chia thành hạng, giá cả khác nhau và” đảm bảo chất lượng”, để cung ứng thị trường cứt rất cần thiết: -Cứt hạng nhất: được thu gom ở khu Ba Đình, là nơi cán bộ, tư bản đỏ, đa số là trung ương, bộ chính trị… ăn toàn là thứ ngon, ăn trên đầu, cổ dân…nên cứt có chất lượng cao nhất, nhưng là thúi nhất, đúng như câu:” ăn càng ngon, cứt càng thúi”. -Cứt hạng nhì: khu Hồ Hoàn Kiếm, là nơi tập trung thương gia, khách sạn, nhà hàng. -Cứt hạng ba: từ vùng Hai Bà Trưng đến Đống Đa: dân lao động nghèo, cứt thường lỏng. -Cứt hạng bét: ở ngoại thành Hà Nội, dân chúng thường ăn rau, nên” kém chất lượng”. Tuy nhiên” cứt cao cấp” và được dân hốt cứt ưa chuộng nhất như món hàng nhập, là” từ các thùng cứt của các sứ quán”, nếu sứ quán nào càng” tư bản phản động” như Mỹ, Anh, Pháp…thì cứt càng có” mệnh giá cao”. Việt kiều cũng thế, đó là những người tỵ nạn, trở về nơi họ bỏ ra đi vì nguy hiểm tánh mạng, nay an toàn về. Người tỵ nạn chỉ cần quay về một chuyến bay, trở thành Việt kiều. Tuy nhiên, phân hạng, có 4 loại Việt kiều: 1-Việt kiều đột xuất: thành phần nầy không theo, ưa Việt Cộng, nhưng vì hoàn cảnh cha mẹ già yếu, tang chế…nên phải trở về vài lần, lập trường vẫn không thay đổi, nên dể thông cảm. 2-Việt kiều bán thời: là những người trở về hàng năm, nhưng thời gian không quá 6 tháng. Trong đó có thành phần Việt kiều TAM DU:” du lịch, du hý, du dâm”, làm mang tiếng cả tập thể những người về theo dạng” Việt kiều đột xuất”. Một số Việt kiều tam du thường có quan hệ tình dục, dây dưa rể má với những phụ nữ, do hoàn cảnh nghèo khổ mà chấp nhập làm vợ nhỏ, thỏa mãn tình dục cho những người may mắn ra nước ngoài. Đó là những mái ấm gia đình” không người lái”, nhất là sau thời kỳ mở cửa. 3-Việt kiều toàn thời: thành phần nầy về Việt Nam hàng năm, ở hơn 6 tháng, rất đa dạng: -Một số người già: sau thời gian ở các nước” tư bản phản động” ngán” bơ thừa sửa cạn”, dành dụm mớ tiền, về sinh sống và” đóng hụi chết” cho cán bộ, công an, để được an thân. Những người làm việc lâu năm, về hưu, có tiền hưu, nay muốn tìm về” cây đa bến cũ, quê hương là chùm khế ngọt”…mang tiền về giúp đảng có thêm ngoại tệ. Trong số người về nầy, có một số” già dịch” về nước sống chung với vợ nhí, đáng tuổi con cháu mình.. đây là những cái máy chi tiền cho nhà nước, cán bộ. -Tại Úc có một số cựu quân nhân quân lực VNCH, được hưởng qui chế cấp dưỡng cựu chiến binh theo luật Entitlement act 1968, trở về ở 11 tháng mỗi năm, qua Úc một tháng theo luật, cứ thế mà ở hoài, đương nhiên muốn an thân cũng phải biết điều với các ngố, trở thành bạn nhậu, mạnh thường quân đóng góp tiền theo yêu cầu. Những cựu quân nhân nầy về và ở quá lâu, để biện minh, có người nói láo là:” về Việt Nam chửa bịnh”…trong khi ở Úc, hệ thống y tế, chuyên khoa tiên tiến, nhưng lại không bằng thầy thuốc nam và bác sĩ Việt Cộng? 4- Việt kiều siêu đẳng hay” Việt kiều cao cấp”: là thành phần đặc biệt, về nước làm ăn, buôn bán và được đảng, nhà nước kêu gọi:” mang tiền về xây dựng đất nước”, trong khi đảng và gia đình mang tiền sang các nước” tư bản phản động” để đầu tư, tẩu tán, mua bất động sản. Không phải Việt kiều” siêu đẳng” nào về nước cũng làm ăn thành công, bên cạnh ít người thành công, đa số thất bại, bỏ của chạy lấy người. Trong vài gương thành công” vượt bực”, đương nhiên là có thể lệ và điều kiện áp dụng, chứ không bao giờ có chuyện hên làm ăn trót lọt và bền vững dưới bàn tay đảng cướp súc vật Việt Cộng, lật lọng, gian manh. Đó là tấm gương Việt kiều như Nancy Bùi là người về khá sớm và làm ăn phát đạt, thành công lớn, sang Mỹ thành lập hội Bảo Tồn Văn Hóa, qui tụ một số người danh tiếng như:” Phiếu Mẫu Giao Chỉ” là Khúc Minh Thư, là nhân chứng theo phe bà chủ tịch Nancy Bùi trong vụ kiện Đổ Văn Phúc. Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, về VN nhưng lý luận với cái” tâm quốc gia” dù giao du và liên hệ với CS cũng không hề hấn gì, đúng là” đốc tờ hoa sen”. Luật sư Trần Mộng Vinh, người trẻ có cao kiến,” cao tốc”, rất tâm đắc bộ độ bác hồ có công đưa đất nước vào các cuộc chiến 1945-1975 và bảo vệ đảng trong:” nhiệm vụ thái thú nào cũng hoàn thành”. Thế hệ thứ 2 về làm ăn thành công vượt bực là Carina Hoàng Oanh, đúng là:” con giòng cháu gióng” thuộc họ Hoàng Cơ, lừng danh là lãnh tụ kháng chiến cuội, trở thành” khiến chán” Hoàng Cơ Minh, tư bản kháng chiến Hoàng Cơ Định…ngoài ra còn có Hoàng Cơ Long, đại tá y sĩ Hoàng Cơ Lân….Carina Hoàng Oanh là con dòng trên , cha là Hoàng Tích Ái Hữu. Carina Hoàng Oanh thuộc Việt kiều siêu đẳng, hay nói theo từ ngữ đảng” Việt kiều cao cấp”, làm ăn thành công và ra nước ngoài viết sách bằng Anh ngữ, tố cáo cướp biển, tả oán thuyền nhân và phớt lờ nguyên nhân đưa đến thảm cảnh nầy là Việt Cộng. Do đó, thương nghiệp vững bền và ra vào thoải mái. Bên cạnh những gương thành công vượt bực, không làm cực mà hốt tiền, nếu không dính liền với các giới chức cao cấp trong nước. Có nhiều bài học thất bại nhưng” không phải là mẹ thành công” như: Úc kiều Nguyễn Trung Trực, có bà dì làm lớn trong bộ công an, đương thời đi xe roll royce, có cả đội công an bảo vệ, đòi tiền nợ cũng do công an thi hành, thế mà sau đó bị đánh tư sản, thân bại danh liệt. Nhật kiều Nguyễn An Trung, từng ủng hộ đảng trong thời kỳ du học, sau năm 1975, về hợp tác làm ăn, cũng chung số phận” vắt chanh bỏ vỏ”. Vua Chả Giò Trịnh Vĩnh Bình, gốc đảng phái chính trị Hòa Lan, mang tiền về và bị cướp sau đó bỏ chạy, kiện đòi bồi thường hàng trăm triệu Mỹ Kim, nghe đâu Việt Cộng có ý định thủ tiêu nhưng mạng lớn mà chạy vuột về nhà ở Hòa Lan; đây là kinh nghiệm mà đảng Việt Cộng học qua vụ án Trịnh Vĩnh Bình, đảng phải bị mất hàng trăm triệu Mỹ kim do tòa án quốc tế phán, do đó, sau nầy có những vụ tương tự, chắc chắn là bị thủ tiêu qua nhiều hình thức khi còn nằm trong nhà tù, thì làm gì mà bồi thường?. Cháu ngu ghẻ bác hồ là Trần Trường, sau thời gian” lập công dâng đảng” treo cờ đỏ và chân dung hồ chủ tặc ở tiệm Hitech, Bolsa vào tết năm 2000, quay về làm ăn, đâu tư” ao cá bác hồ” và cũng bị đánh tư sản, phải hát bài” khi Việt kiều tháo chạy”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều Việt kiều thất bại sau thời gian làm ăn, âm thầm tháo chạy, ôm hận, ngậm bồ hòn, lòn ra nước ngoài, im lặng là vàng, vì sợ nói ra là quê, còn bị liệt vào hàng ngũ” đón gió trở cờ, đánh hơi như chó”. Việt kiều làm ăn thất bại, nằm trong thành phần Việt kiều siêu đẳng hay Việt kiều cao cấp, nhưng vì chưa bắt mánh đúng người, đúng phe cánh…mà đành phải bỏ của chạy để an toàn. Đó là những người về với bình phong THĂM LÀNG, có kẻ lấy điểm đi Hà Nội THĂM LĂNG và làm ăn, nhưng bị thua lỗ với nhiều lý do, đoạn bỏ về hải ngoại thành THẦM LẶNG. Nhưng ở đời nầy, khó dấu được dưới ánh mặt trời, những chuyện thăm cung bí sử cũng lần lượt bị bạch hóa. Cho nên vài thành phần Việt kiều làm ăn, tưởng bở sau khi đánh hơi Mỹ xã vận năm 1994, một số người tỵ nạn “ quá độ” thành Việt kiều, về làm ăn âm thầm, lúc đầu khá trôi và sau đó bị đánh tư sản, thất bại, cũng âm thầm bỏ về mà lòng ấm ức vi mất khá nhiều tiền. Ở Pháp có một Việt kiều ”cao cấp” về, nhưng ít người biết, y rất khéo léo, mở hãng làm ăn, may mặc, làm áo thung, nhưng bị thua và lặng lẽ quay về Pháp. Để ngụy trang, đương sự hăng hái viết một số bài chống Cộng, khiến nhiều người lầm tưởng là dân tỵ nạn THẬT TÌNH, nhưng sau thời gian, biết đó là Việt kiều ham THỊT TIỀN…những bài báo của y không thể bao phủ được việc làm ăn tại Việt Nam. Sau khi bị nhiều người biết, có đưa lên diễn đàn, nghe đâu tay làm ăn Việt Nam giả danh chống Cộng nhào vô băng đảng Việt Tân để tránh, lập ra hội văn hóa, văn học gì đó… tưởng không ai biết, nhưng hồ sơ giấy tờ có đầy đủ và người bị gạt tiền cũng còn sống , có ngày cũng sẽ bị " vạch mặt " thôi, ăn năn hối lỗi cũng không kịp. Nên im lặng đi là hay nhất, "thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu " ! Ở Úc Châu cũng thế, có mấy tay về làm ăn trong ngành khách sạn, ban đầu được nâng đỡ, được phép xây thêm lầu, nhưng sau đó trung ương bảo đưa tiền mà không thỏa mãn vì đã chi quá nhiều. Bị làm khó dễ, phải bỏ chạy từ thành hồ về Úc, bị mất hơn nửa triệu Úc kim. Nữ thị trưởng thành phố Marybynong là Hồ M., khi làm lớn, ký văn bản:” thành phố Marybynong kết nghĩa với quận nhất thành hồ” bị phản đối mạnh và vận động cho con gái là Lê T.., thành” người Úc xuất sắc”…hai mẹ con về VN làm ăn thời gian, ban đầu được tiếp đãi nồng hậu, nay cũng tháo chạy và hình như Lê T.. gia nhập Việt Tân? Ở Mỹ có tay làm nghề bán nhà, có quen biết với cán bộ trung ương, nghe lời, bán gia sản về xây khách sạn. Nhưng sau khu làm xong, bị tịch thu, hù dọa, phải bỏ chạy về Mỹ, tán gia bại sản, thiếu nợ ngân hàng. Ngày nay, Việt kiều về làm ăn bị đánh tư sản khá đông, nhưng ít người dám thành thật khai báo để bà con nào muốn làm ăn tránh xa. Nhưng làm ăn mà suông sẽ, lâu dài là phải biết đó là thứ Việt kiều siêu cấp thứ thiệt, có tay trong rất bự và ăn chia đầy đủ. Hay đó là thành phần kinh tài như trước đây ở miền nam: lúc ở vùng trong là dân VC, khi ra thành hợp pháp làm ăn, gầy dựng cơ sở kinh tài, khi VC chiếm ngày 30 tháng 4 năm 1975, mới biết đó là cán bộ nằm vùng. Thành phần Việt kiều cao cấp, siêu đẳng không bao giờ dám nhận” tông tích” hay khoe thẻ công vụ lịnh, chúng luôn chối dài như mụ khỉ cái Nguyễn Thị Bình trước 1975, không bao giờ công nhận là VC, nhưng sau 1975, thì nhảy múa ăn mừng đại thắng mùa xuân, chừng đó mới biết đây là giặc. Việt kiều bán thời, toàn thời và Việt kiều cao cấp là nguồn tài chánh thường trực, giúp đảng có được hàng tỷ Mỹ kim hàng năm, nên đảng dùng đó vào các công tác đánh phá hải ngoại như câu:” gậy ong đập lưng ong” và giúp đảng trong lúc khó khăn, nhất là thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Chính những thành phần Việt kiều nêu trên đã nuôi đảng từ sau năm 1975 đến nay./. Trương
Minh Hòa
07.12.2011 |