T  H  Ờ I   -   S Ự


Nguyên nhân lạm phát tiền tệ và nghèo đói ở Việt Nam

-Mai Vĩnh Thăng -    

 
Lạm phát là một trong những vấn đề quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất tiết kiệm, lãi suất nợ và giá sinh hoạt trong mọi lãnh vực. Hầu hết chúng ta đã từng trải qua thời kỳ lạm phát mà nguyên nhân có thể do chu kỳ kinh tế hoặc chính sách nới rộng tiền tệ gây ra trong một giai đoạn nhất thời. Nhưng nguy hiểm nhất là khi một quốc gia “tăng số lượng tiền cung cấp”. Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu nguyên nhân gây ra lạm phát từ đó đưa người dân vào tình trạng nghèo đói hiện nay.

Những năm qua Việt Nam đã không còn khả năng trả nợ quốc tế, điển hình nhất là vụ Vinashin và Vinaline, do đó cơ quan lượng giá Moody đã hạ uy tín vay nợ của Việt Nam từ B1 xuống B2. Theo nguyên tắc, Baa1,Baa2 và Baa3 là khả năng trả nợ ở mức độ trung bình, Ba1, Ba2 và Ba3 là bị nghi ngờ về khả năng trả nợ, Việt Nam trong hạng B2 thường dành cho các quốc gia đã từng quỵt nợ trong đó có người anh em cộng sản Bắc Hàn.

Lợi tức chính của một quốc gia là thuế, nếu cần thêm tiền để phát triển có thể vay nợ, thường là bán trái phiếu (bonds) nhưng trong nhóm B2, Việt Nam không còn uy tín. Với nền kinh tế quốc doanh què quặt và tham nhũng, nhập cảng nhiều hơn xuất cảng và công nhân lương thấp nên hầu hết được miễn thuế. Những năm qua nhờ dụng cụ và kỹ thuật in của Úc, Việt Nam in tiền thay lợi tức thuế, một sự chọn lựa vô cùng nguy hiểm có thể đi đến phá sản vì in càng nhiều, tiền càng thêm mất giá. Lạm phát và lãi suất cao đến một mức nào đó đồng tiền sẽ không còn giá trị kinh tế. Đó là trường hợp Việt Nam hiện nay, giá trị đồng tiền thấp nhất Á châu, thấp hơn Miên và Lào so với hối suất đồng Mỹ ngày 7/11/2012.

Malaysia    3.05 Ringgit
Thailand    30.60 Baht
Philippine    40.95 Peso
India        54.02 Rupee
Burma               850.53 Dollars
Cambodia    3,998.90 Riel
Lao        7,965.65 Kip
Indonesia    9,575.50 Rupiah
Vietnam    20,830.00 Dong

Ngày nay bất kỳ quốc gia nào cũng làm luật tự cho phép in tiền mà không cần bảo chứng bằng quý kim như vàng bạc hoặc ngoại tệ được quốc tế công nhận như US Dollar, Jap Yen hoặc Euro. Việt Nam cũng không ngoại lệ, trong đại hội đảng CSVN lần thứ II tháng 2/1951, Hồ Chí Minh ký Quyết Định số 15/SL thành lập ngân hàng Ngân hàng quốc gia Việt Nam miền Bắc và cho phép in tiền. Sau năm 1975 CSVN sáp nhập hai Ngân hàng quốc gia Nam và Bắc với danh xưng Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Từ đó ngân hàng này in tiền và tuyên bố là hợp pháp để lưu hành trong cả hai miền Nam và Bắc.

Ngày 22/9/1975 CSVN phát hành tiền mới, 1 đồng đổi 500 Đồng VNCH, như vậy chỉ trong 5 tháng đã lạm phát 500%. Đến ngày 14/9/1985 một lần nữa CSVN lại đổi tiền, 10 đồng cũ mà họ phát hành vào tháng 9/75 đổi lấy1đồng mới , chỉ trong 10 năm tiền Việt Nam mất giá đến 5,000% (500 x 1 x10) mà hầu hết người cao tuổi chúng ta vẫn chưa quên.

Để hình dung sự mất giá của đồng tiền, xin nêu một thí dụ cụ thể: Giả sử tổng sản lượng quốc nội Việt Nam có khả năng sản xuất 20 quyển sách trong năm và ngân hàng in ra 200 đồng, như vậy giá trị 1quyển sách là 10 dồng. Nếu in ra 400 đồng, chừng ấy quyển sách đó sẽ là 20 đồng và nếu in 600 đồng, quyển sách đó sẽ là 30 đồng, tỷ lệ lạm phát tương đương với 300%. Đó là thí dụ dễ hiểu về nguyên nhân lạm phát, là hậu quả của việc in nhiều tiền và Ngân hàng nhà nước độc quyền kiểm soát việc phát hành vì thế không thể đổ tội cho ai cả. Phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu bằng cách nào Ngân hàng nhà nước đưa đồng tiền lưu hành trong nền kinh tế.

Để lưu hành, trước nhất Ngân hàng nhà nước trao số tiền đã in cho nhà cầm quyền với điều kiện phải trả lại số nợ này với lãi suất và trong thời gian ấn định. Nói cách khác, chính phủ vay nợ của ngân hàng nhà nước và đó chỉ là nguyên tắc. Kế đến, để làm hài lòng mọi người, Ngân hàng nhà nước sẽ cung cấp tiền cho các ngân hàng quốc doanh và hợp doanh, cũng do nhà nước và tay chân họ điều hành. Để thực hiện điều này, ngân hàng quốc doanh và hợp doanh sẽ bán bonds gây quỹ, nói cách khác là vay nợ mà chính phủ, là người mua bonds, thay vì Ngân hàng nhà nước trực tiếp phân phối. Kết quả là các ngân hàng được phân phối tiền một cách hợp lý và nay đã trữ đầy ắp tiền và có thể cho vay một cách thoải mái với lãi suất thấp. Riêng bốn ngân hàng quốc doanh lớn Việt Nam chiếm 48% thị trường nợ trên toàn quốc.

Đến đây chúng ta sẽ xét đến ảnh hưởng của sự gia tăng cung cấp tiền tệ. Không cần phải lặp lại nguyên tắc cung và cầu, nếu có quá nhiều tiền lưu hành trong nền kinh tế vào một thời điểm nào đó, hàng hóa sẽ tăng giá, nghĩa là “tiền tệ dư thừa trong khi hàng hóa khan hiếm”. Hãy nhìn vào tỷ lệ, một bên Ngân hàng nhà nước in ra hàng khối tiền trong khi các kỹ nghệ chỉ có thể sản xuất hàng hóa trong khả năng cho phép, dĩ nhiên hàng hóa sẽ càng đắt hơn.

Để kết luận, lạm phát Việt Nam không phải là hiện tượng tự nhiên xảy ra trong nền kinh tế mà là hậu quả việc in tiền có tính toán. Ngân hàng quốc doanh và hợp doanh là cánh tay phải và tay trái của đảng CSVN hưởng lợi nhiều nhất từ chính sách nới rộng tiền tệ. Trong khi dân nghèo vay nợ phải trả tiền lời cùng với đa số công nhân với đồng lương thấp không thể thích ứng với tình trạng lạm phát, vẫn phải cúi đầu chấp nhận lầm than nghèo đói.

Mai Vĩnh Thăng
9/11/2012

Trở Về