T  H  Ờ I   -   S Ự

  
Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường -Bài 1-

-Hàn Giang Trần Lệ Tuyền-     


Kính thưa quý độc giả

Thưa quý vị,

 

Hôm nay, ngày 8 tháng 9 năm 2014. Chúng tôi bắt đầu viết loạt bài: Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường. 

 

Vì thế, trước hết, chúng tôi xin phép quý vị cho tôi được trình bày những nguyên nhân khiến cho tôi phải viết bài này, để trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường như sau:

 

Như quý vị đã biết, trong suốt cả một thời gian dài vừa qua, Trần Hùng Văn, một kẻ mà trước ngày 30/4/1975, ông ta ở bên kia giòng sông Bến Hải, hay nói cho đúng hơn là người Bên Kia Chiến Tuyến; còn tôi là một người được sinh ra và trưởng thành tại miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa ở phía bờ Nam của chiếc cầu Hiền Lương; tôi không hề biết mặt của Trần Hùng Văn, thì đúng ra, tôi không cần phải lên tiếng trả lời.

 

1- Ông Lê Xuân Nhuận đã viết về Trần Hùng Văn, tức Việt Thường:

 

Theo lời của ông Lê Xuân Nhuận đã viết. Xin được trích lại nguyên văn, kể cả những chữ tô mầu đỏ như sau:

 

“Theo ông VIỆT THƯỜNG

(Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam):

 

          ... Nguyễn công Tài đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu hàng núi hồ sơ về gia đình nhà ông Ngô Đình Diệm và những người kế cận, cũng như những người đối lập. Tài liệu cập nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng góp của nội gián Phạm ngọc Thảo là rất quan trọng. Làm sao phải chọn người tiếp xúc thật đúng mà lại bảo toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Nguyễn công Tài đã lựa nhân vật Mã Tuyên, người Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc kinh tài cho gia đình ông Ngô Đình Diệm.

            Thông qua dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn công Tài đã tiếp xúc trực tiếp được với Mã Tuyên. Và, cái thời điểm để đưa ý kiến cho Mã Tuyên “gợi ý” với anh em ông Ngô Đình Diệm là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uý của quân đội ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom dinh Độc Lập làm đảo chính. Sự việc của hai trung uý Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lý do hợp thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc tiếp xúc với anh em ông Diệm, Nhu thông qua thương gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mã Tuyên. Tín hiệu có thuận lợi. Quả nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách thận trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái giá đi đêm. Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em ông Diệm, Nhu tuy học ở Pháp và Mỹ về nhưng óc bài ngoại cực đoan như Tự Đức và cũng có mộng Việt Nam sẽ gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc ở châu Á.

            Sự việc tin đi mối lại chỉ dừng ở đó. Phải cho đến lúc được phép của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho ông Nhu một số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn lưu lại ông Diệm còn vợ chồng ông Nhu phải đi lưu vong nước ngoài, cũng như họ trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ bỏ chế độ độc tài, gia đình trị, phải chia quyền lãnh đạo cho các đảng phái cũng như phải có chính sách bình đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một cuộc gặp gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line. Có thể đây chỉ là giải pháp phòng ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rõ hơn ý đồ của địch. Những điều này còn là bí ẩn đi theo ông Nhu xuống tuyền đài.

            Phạm Hùng nhận những chỉ thị toàn quyền hành động từ ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở Ba-Đình (Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ và hàng không.

            Đầu tháng 2-1963, cuộc họp “bí mật” giữa ông Ngô Đình Nhu Phạm Hùng diễn ra tại một địa điểm kín đáo ở quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Trong cuộc họp này có cả Nguyễn công Tài cũng được dự. Khi chia tay, cả hai bên đều hỷ hả. Nội dung cuộc họp vẫn còn nằm trong bí mật cho đến nay.

            Đầu tháng 11-1963, các tướng trong quân đội của ông Diệm làm đảo chánh thành công. Anh em ông Diệm, Nhu theo đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà Mã Tuyên. Phải chăng hai anh em ông Diệm, Nhu định chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài đến đón ra bưng biền?

            Người duy nhất còn lại là Nguyễn công Tài, sau này “tình cờ” làm cái việc xét căn cước, cảnh sát của miền Nam đã bắt được Nguyễn công Tài. Người Mỹ đã cho giam Nguyễn Công Tài ở Bạch Đằng (Sài-gòn), cho hưởng mọi tiện nghi vật chất rất cao và cũng được ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi “tham quan” phố xá Sài-gòn. Đến 1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ đã thả Nguyễn công Tài ra...” (Lê Xuân Nhuận)

 

Song cho dù Trần Hùng Văn là “Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam”, như ông Lê Xuân Nhuận đã viết như trên, thì tôi cũng chưa viết một lời nào, để được gọi là “chống” ông ta, nhưng Trần Hùng Văn đã vô cớ tìm mọi cách để viết ra vô số những chuyện, kể cả những chuyện hoàn toàn bịa đặt về đời tư, để bêu riếu, miệt thị chúng tôi; nhưng lại núp dưới tên của kẻ khác, chứ không công khai lên tiếng.

 

Chính vì thế, chúng tôi đã phải tìm mọi cách, để CẠY cái mồm của Trần Hùng Văn, buộc chính Trần Hùng Văn phải mở miệng. Và Trần Hùng Văn ĐÃ PHẢI MỞ MIỆNG!

 

Trần Hùng Văn mở miệng, hay chúng tôi đã buộc Trần Hùng Văn phải mở miệng, và chỉ cần một lần là đủ. Chúng tôi chờ có thế, vì đó mới là lúc chúng tôi lên tiếng, vì ngoài Trần Hùng Văn, chúng tôi không bao giờ trả lời cho bất cứ một kẻ nào là “đồng chí” của Trần Hùng Văn. Và chúng tôi cũng chỉ lên tiếng, để nói cho hết một lần thôi, rồi sau đó, chúng tôi không cần phải nhắc tới Trần Hùng Văn nữa!

 

Kính thưa quý vị,

 

Nhân thời điểm Trần Hùng Văn đã công khai lên tiếng qua một audio, nên chúng tôi cũng phải lên tiếng, với mục đích chính, là để cho quý độc giả ở tại quốc nội và hải ngoại đều được biết rằng:  Tất cả những gì do Trần Hùng Văn, tức Việt Thường viết và nói ra đều là những chuyện hoàn toàn bịa đặt, để vu khống, chụp mũ và miệt thị chúng tôi cũng như nhiều người nữa.

 

Và trước khi đưa bài này lên các diễn đàn, tôi đã viết xong một bài dài hơn 18 (mười tám) trang, qua bài ấy, tôi đã nói gần hết những gì tôi đã làm trước ngày 30/4/1975. Tôi cũng đã lục tìm lại những giấy tờ cũ, với ý định sẽ chia bài viết thành hai kỳ, rồi kèm các giấy tờ còn giữ được, để đưa lên các diễn đàn. Thế nhưng, sau nhiều lần suy nghĩ , tôi đã tự vấn: mình có nên đưa bài ấy lên hay không?

 

Và cuối cùng, tôi đã quyết định là KHÔNG.

 

Tại sao tôi quyết định như vậy?

 

Xin thưa: vì tôi nhớ lại hai năm bị Công an Đà Nẵng bắt giam, rồi từ nhà giam Kho Đạn, Chợ Cồn, Đà Nẵng, tôi đã bị đưa vào nhà giam Hội An và Tam Kỳ, và qua những lần gặp “cán bộ chấp pháp”, tức Công an thẩm cung, với không biết bao nhiêu lần phải viết những “Bản tường thuật – Tờ khai lý lịch” với những đòi hỏi, người viết phải “tự khai” về lý lịch ba đời, mà còn phải viết theo dưới cái:

“Tiêu chuẩn: Thành thật khai báo về bản thân. Sẵn sàng tố cáo tội ác của người khác mà mình biết”.

 

Với cái gọi là “Tiêu chuẩn” này, các vị đã từng bị thẩm cung có lẽ còn nhớ, nạn nhân chẳng những phải khai hết lý lịch ba đời, phải khai rõ ràng về đảng phái, tôn giáo của mình, mà còn phải ghi thêm tên họ, địa chỉ của ba người bạn thân nhất nữa.

 

Chính vì thế, sau khi đọc lại bài viết hơn 18 trang, đã khiến cho tôi phải giật mình, vì tự thấy rằng mình đã bị rơi vào cái bẫy của “cán bộ chấp pháp”. Tôi tự hỏi, tại sao trong suốt hai năm bị Công an “giam cứu” trước khi đưa vào trại “tập trung cải tạo”, dù phải viết hàng bao nhiêu lần những “Tờ khai lý lịch” và “BảnTường thuật” , nhưng tôi vẫn viết một nội dung giống nhau, không thay đổi. Thế thì, tại sao bây giờ tôi lại dại dột đi viết một “Tờ khai lý lịch - Bản tường thuật” do những thủ đoạn của “nghiệp vụ chuyên môn” của Trần Hùng Văn?

 

Thế rồi tôi bỗng ôn lại những bài học lịch sử trên thế giới, mà mình còn nhớ được:

 

Tại sao Đại đế Napoléon phải thua trận; tại sao Fouché thắng Robespierre, tại sao Trotsky một người có trình độ học vấn cao, nhưng phải thua Staline một kẻ ít học; tại sao một Châu Du cũng đầy thủ đoạn, mà phải thảm bại trước mưu trí của Khổng Minh; tại sao Tưởng Giới Thạch dù đã thắng được trận Thụy Kim, nhưng cũng phải bại trận trước họ Mao dù họ Mao không có chính nghĩa.. tại sao và tại sao?

 

Từ những câu hỏi ấy, khiến cho tôi đã quyết định bỏ một bài viết dài tới hơn 18 trang, mà nếu tôi dại dột đưa lên các diễn đàn, là tôi đã tự khai hết lý lịch của mình; bởi thủ đoạn của Trần Hùng Văn, là một “Cựu đảng-viên cao-cấp Cộng-Sản Việt-Nam”.

 

 

2- Tôi không bao giờ thua trí trước Trần Hùng Văn:

 

Không! Tôi, Hàn Giang Trần Lệ Tuyền, không đời nào tôi phải chịu thua trí trước một tay thầy bói Trần Hùng Văn; bởi tôi được sinh trưởng, được sự giáo dục dưới mái học đường và gia đình tại Nước Việt Nam Cộng Hòa, từng một thời phục vụ tại C1 Lực Lượng Đặc Biệt, KBC 3425, và đã hai lần thành công trong công tác đặc biệt, để “lấy khẩu cung như không khẩu cung” một cách dễ dàng, từ hai “Sĩ quan cao cấp” của “bộ đội chính quy” Bắc Việt, khi hai người này bị thương rất nặng, bị bỏ lại trong rừng, vết thương có dòi bò lúc nhúc, đã được quân đội Hoa Kỳ cứu, đưa lên trực thăng đem về Bệnh viện Mỹ, tại Chu Lai để cứu chữa. Nhưng hai tên này, quyết không mở miệng, cho dù trước đó, một đàn chị của tôi đã “trổ tài” nhưng không có kết quả. Nên sau đó, qua tài “hóa trang” của một “đàn chị”; tôi, trong trong vai “một đứa con gái nghèo khổ, con của một người đàn bà ở đợ cho một gia đình giàu có người Bắc, đã đưa hai mẹ con di cư vào Nam, đang sống đói rách, đau khổ”; với trên tay là một chiếc giỏ cói đã rách, tôi “đi tìm thăm thân nhân” tại bệnh viện Hoa Kỳ, tại Chu Lai.

 

Tưởng cũng nên nhắc lại, bệnh viện Mỹ tại Chu Lai, ở đấy,  từ các bác sĩ và y tá đều là người Mỹ, còn người Việt chỉ làm công việc bồi phòng, nấu ăn, và bưng cơm nước cho bệnh nhân, chứ không được sờ tay vào bệnh nhân.

 

Bệnh viện này, đã cứu chữa cho tất cả mọi người không phân biệt Quốc Gia hay Cộng sản, kể cả những cán binh, du kích Cộng sản bị thương nặng, bị bỏ rơi trong rừng, và thân nhân của họ cũng được vào thăm vào ban ngày; không được ôm hay đặt tay vào người thân.

 

Trở lại với hai “sĩ quan cao cấp” của “quân chính quy” Bắc Việt. Thời gian đầu, vì tin những lời tuyên truyền của Cộng sản Hà Nội rằng: “Khi bị bắt khai cũng chết, không khai cũng chết”, nên hai người này không chịu mở miệng. Nhưng sau khi đã gặp tôi, thì họ đã mở miệng, đã “khai như không khai”; nhờ thế, mà phía Hoa Kỳ đã biết nhiều bí mật. Một thời gian sau, hai người này đã chính thức xin Hồi Chánh, và đã được Hoa Kỳ tưởng thưởng…

 

Đó là những người Cộng sản đã tỉnh ngộ, khi thật sự trở về với Chính-Nghĩa Quốc-Gia Dân-Tộc. CònTrần Hùng Văn là một tay thầy bói dưới chế độ Cộng sản Bắc Việt, nhưng  đã được đảng Cộng sản Hà Nội dành cho nhiều ưu đãi đặc biệt như nhà báo Thế Huy đã viết qua bài: “Việt Thường, ông là ai?” như sau:

 

“… Không những thế, ngay sau 30/4/1975, Việt Thường được gửi vào Sàigon để quan-sát, nghiên-cứu hầu đưa ra các nhận-định về VNCH. Điều đó có nghĩa là VC không tin-tưởng vào những tay sừng-sỏ trong ngành điệp-báo của họ nằm trong các cơ-quan đầu não của VNCH và trong mọi ngành-nghề khác suốt mấy chục năm và… nghi-ngờ cả những báo-cáo của Trung-Ương Cục CS Miền Nam trong suốt cuộc chiến xâm-lược của chúng, nên chúng phải gửi Việt Thường vào Sàigòn để nhận định thêm. “Điều này chỉ đúng nếu Việt Thường là Cố-Vấn Tối-Cao của Bộ-Chính-Trị/TƯĐCSVN”. (ngưng trích)

 

Tuy nhiên, suốt trong thời gian qua, Trần Hùng Văn đã lấy những ý kiến trên các diễn đàn, và những gì do ông Lê Xuân Nhuận viết ra, không cần biết đúng, sai, miễn là có lợi cho Trần Hùng Văn là y cứ lải nhải, nhai đi, nhai lại, cũng như đã bịa đặt ra vô số những chuyện trên trời, dưới đất với mục đích là để bôi nhọ danh dự của người khác, không phải riêng tôi, mà Trần Hùng Văn đã bịa đặt ra những điều không hề có, để bôi nhọ rất nhiều người trong cộng đồng người Việt từ quốc nội và hải ngoại, để ly gián giữa những người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính và chống Cộng thực sự.

 

 

3- Trần Đăng Sơn không phải là “Trung tá tình báo an ninh VGCS”:

 

Riêng với tôi, Trần Hùng Văn đã nói về một người là “Trần Đăng Sơn Trung tá tình báo an ninh VGCS và Trần Lệ Tuyền ở Liên Khu 5” của Việt cộng; (chỉ nội cái gọi là “tình báo an ninh” đã là rất ngu rồi). Trần Hùng Văn cũng bịa chuyện đời tư rằng tôi “có chồng bị liệt”.

 

Những điều trên đây, tôi không muốn trả lời cho Trần Hùng Văn, mà mục đích của tôi, là tôi xin thưa cùng với quý vị trong cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại, cũng như quý độc giả tại quốc nội rằng:

Trước ngày 30/4/1975, tôi sống tại Thành phố Đà Nẵng, thì không riêng tôi, mà người dân Quảng Nam-Đà Nẵng đa số có nghe nói về Trần Đăng Sơn (TĐS), nhưng tôi không hề gặp mặt TĐS,  mà tôi chỉ gặp TĐS lần đầu tiên, vào mùa Hè năm 1984, lúc ấy, TĐS đang bị bệnh nặng, phải chống gậy tại bệnh xá của nhà tù T.154, tức “trại cải tạo” Tiên Lãnh, Tiên Phước, Quảng Nam.  Đây là lần đầu tiên tôi thấy mặt TĐS trong nhà tù, nhưng không chào hỏi gì cả. Tuy vậy, nhưng qua nhiều vị  trong trại nam, tôi được biết, lúc ấy, đã gần mười năm ở trong nhà tù, TĐS không có một ai là thân nhân đi thăm nuôi cả. Do vậy, nên rất thiếu thốn, rồi bệnh tật không có thuốc men.

 

Trước hoàn cảnh ấy, tôi đã xin Công an trại gửi cho TĐS ít quà thăm nuôi, nhưng qua “trật tự” của trại, chứ tôi không gặp mặt TĐS lần thứ hai trong nhà tù “cải tạo”. Nhắc lại chuyện này, tôi nhớ đến Người Mẹ của của tôi, Mẹ rất thương tôi, đứa con gái còn trẻ, còn độc thân mà phải chịu cảnh ở tù, nên Mẹ thường xuyên lên trại thăm nuôi. Vì thế, mỗi khi thấy người đồng tù thiếu thốn, tôi đều muốn giúp đỡ, những điều này, tôi không bao giờ nhắc lại, nhưng nhiều vị cựu tù “cải tạo” có lẽ còn nhớ.

 

Tôi biết trước 30/4/1975, Trần Đăng Sơn là Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng miền Trung dưới sự lãnh đạo của cụ Vũ Hồng Khanh. TĐS tuổi Đinh Sửu, 1937, không thể có mặt tại “Liên Khu 5” của Việt cộng, vì lúc đó chỉ trên dưới 10 (mười) tuổi, Trần Đăng Sơn không ra chiến khu của Việt cộng, không phải là “Trung tá của VGCS” nên không có cái chuyện “chiêu hồi”; cũng không là “Trung tá, phó ty Công an Đà Nẵng”. Mà TĐS cũng phải vào tù như quý vị Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng đã biết. Và TĐS và tôi không hề “đi với Hoàng Duy Hùng sang Thái Lan...” như Trần Hùng Văn đã nói Láo.

 

Riêng ông Lê Xuân Nhuận đã từng viết hai bài:

 

“Ông Ngô Đình Diệm có một tình nhân - Ông Ngô Đình Diệm có một đứa con rơi”.

 

Hai câu chuyện mà ông Lê Xuân Nhuận đã viết cũng như chính Trần Hùng Văn đã viết về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà chúng tôi sẽ có loạt bài viết khác.

 

Về phần tôi, cái gọi là “Liên Khu 5” của Việt cộng, tôi không biết rõ lắm, nhưng nghe nhiều người nói, là đã có vào thời điểm khoảng 1946 – 1947,  lúc ấy, Cha tôi chưa gặp Mẹ tôi, chưa cưới Mẹ của tôi. Nghĩa là tôi chưa được sinh ra đời. Vậy, muốn bịa đặt, dựng chuyện láo, thì phải biết khôn một chút nghe chưa, Trần Hùng Văn.

 

 

4- Cấp bậc Trung tá của Trần Đăng Sơn:

 

Về cái “cấp bậc Trung tá” của Trần Đăng Sơn, là do cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ gắn “lon” cho trong Chiến Dịch Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh, trong cuộc bạo loạn Bàn thờ Phật xuống đường tại miền Trung vào mùa Hè, 1966. Với “cấp bậc” là “Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt”. Nghĩa là TĐS không phải là Trung tá thực thụ, mà chỉ là “Giả Định” dành cho“Dân Sự Đặc Biệt”. Những người được chính phủ “gắn lon “Sĩ quan Giả Định Dân Sự Đặc Biệt” là những người không ở trong quân đội,họ có thể là những người ngoài hạn tuổi Quân Dịch , hoặc được cấp giấy Miễn Dịch, vì lý do con một, hay vì sức khỏe. Những người này, họ có thể nằm trong các tổ chức đảng phái chính trị, hoặc các tổ chức khác. Thế nhưng, trong một Chiến Dịch nào đó, nếu họ có thực lực, vì xét thấy cần họ tiếp tay, thì chính phủ gắn lon cho họ, để họ được chỉ huy một đơn vị nào đó, để vãn hồi an ninh trên những vùng đất đã bị chiếm một cách bất hợp pháp.

 

Và những “cấp bậc Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt”, chỉ có giá trị trong một thời gian ngắn, có thể từ một tuần tới sáu tháng; sau khi Chiến Dịch ấy hoàn tất, thì những người này đều trở về với đời sống dân sự của mình, trừ những “Sĩ Quan Giả Định” khác (không có thêm bốn chữ “Dân Sự Đặc Biệt”, các vị ấy là những Sĩ quan thực thụ, ở cấp thấp hơn, nhưng vì khả năng chuyên môn, nên chính phủ phải “thăng cấp”  là “Sĩ quan Giả Định” để làm “giáo sư” ở các trường mà sinh viên lại mang cấp bậc ngang bằng với giáo sư, đây là một vấn đề tế nhị thôi.

 

Tuy nhiên, sau ngày 30/4/1975, đảng Cộng sản Hà Nội đã bỏ tù những “Sĩ quan Giả Định Dân Sự Đặc Biệt” này, như các vị Sĩ quan thực thụ. Riêng TĐS, đã bị Việt cộng bỏ tù vì cả hai “tội”: VNQD Đ và cái “Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt”. Bởi vì, tại Quảng Nam-Đà Nẵng, đa số dân-quân VNCH,  đã thấy Trần Đăng Sơn đeo lon Trung tá QLVNCH trước mặt mọi người trong Chiến Dịch Hành Quân Đinh Bộ Lĩnh, mùa Hè 1966.

 

Nhưng theo tôi, những chuyện này, ngay tại miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa cũng ít người hiểu biết về cái “Trung tá Giả Định Dân Sự Đặc Biệt” là cái gì, nên có nói với Trần Hùng Văn, một “cựu Đảng viên cao cấp đảng Cộng sản Việt Nam” ở miền Bắc; Và sau ngày 30/4/1975, mới vào Sài Gòn theo chỉ thị của đảng Cộng sản Hà Nội, thì cũng như nói với củ khoai mà thôi.

 

 

5- Trần Hùng Văn đã vu khống, chụp mũ chúng tôi về vụ án ông Trần Văn Bá:

 

Trần Hùng Văn đã tuyên truyền, xuyên tạc là “năm 1979, TĐS và LT đã được VGCS cho sang Pháp, để xâm nhập vào tổ chức của ông Trần Văn Bá, để gián tiếp giết chết ông Trần Văn Bá”.

 

Về vụ án ông Trần Văn Bá, thì năm 1979 Trần Đăng Sơn còn ở trong nhà biệt giam 2.79, tức nhà biệt giam Đồng Mộ, thuộc “cải tạo” Tiên Lãnh, như chính ông Lê Xuân Nhuận đã gặp và đã viết.

Tại nhà Biệt giam Đồng Mộ, TĐS đã ở một phòng giam gồm có năm vị như:  Linh mục Vũ Dần, hiện đang quản nhiệm Giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng, Linh mục Tống Kiên Hùng, Mục sư Dương Đình Nguyện và Tr/ tá Nguyễn Tối Lạc, cả ba vị này đang có mặt tại Hoa Kỳ.

 

Ông Lê Xuân Nhuận cũng có viết một phần nhỏ của sự thật, là vào năm 1979, ông đã chứng kiến Trần Đăng Sơn bị bệnh rất nặng; nhưng ông không ở chung phòng với TĐS trong nhà Biệt giam Đồng Mộ. Ông Lê Xuân Nhuận viết đúng điều này. Đó là, TĐS bị bệnh rất nặng trong nhà biệt giam Đồng Mộ. Do vậy, trong một lần tưởng TĐS phải chết, nên Linh mục Tống Kiên Hùng, Linh mục Vũ Dần và Mục sư Dương Đình Nguyện đã cùng cầu nguyện cho TĐS; và chính trong lần ấy, Linh mục Vũ Dần đã dùng ca nước uống của người tù, để rửa tội cho Trần Đăng Sơn “trước giờ lâm tử”. Nhưng sau khi rửa tội, thì TĐS bất ngờ hồi tỉnh, và sống cho tới ngày hôm nay!

 

Và sau khi ra khỏi nhà biệt giam Đồng Mộ, TĐS đã ở trong Biệt giam “Nhà Trắng” (vì nhà sơn toàn màu trắng), rồi TĐS về Trại 1 (trại chính”. Tại trại 1, TĐS đã ở Nhà 8, cùng với nhiều vị tù mà tôi vẫn còn nhớ tên, với Tr/ tá Nguyễn Văn Chước làm Nhà trưởng).

 

 Phần tôi cũng vậy, năm 1979, tôi vẫn còn ở trong nhà tù này, mà quý vị Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam – Đà Nẵng đã biết.

 

 

6- Chuyện sống chung giữa tôi và Trần Đăng Sơn:

 

Tôi và TĐS đều được ra tù vào cuối tháng 10 năm 1985. Đầu năm 1986, tôi gặp TĐS lần thứ hai, kể cả lần thứ nhất tại  bệnh xá của nhà tù “cải tạo”. Thời gian này, TĐS đang ăn ở nhờ trong nhà của một người em kết nghĩa từ trước 30/4/1975. Thấy hoàn cảnh của TĐS quá bi đát, tôi động lòng thương và đã đưa TĐS về nhà của Mẹ tôi. Ban đầu Mẹ tôi không nói gì, nhưng sau một thời gian ngắn, vì thấy TĐS không hề chịu làm một công việc gì cả. Đó cũng là lý do Mẹ tôi nói với tôi một cách quyết liệt không cho tôi sống chung với TĐS rằng:

“Nếu con muốn sống với thằng nào, thì ít ra nó cũng có cái nhà rách, cũng giúp cho con một chén cơm, đàng này chính bản thân của nó, nó cũng không tự lo được, phải sống bám vào mẹ con của mình, thì tương lai của con sẽ ra sao?”

 

Sau đó, Mẹ tôi đã đuổi tôi ra khỏi nhà, nhưng TĐS lại nói với tôi: “Bây giờ không biết đi đâu!” Tôi lại động lòng thương xót, nên tôi đã lấy chiếc xe đạp của Mẹ tôi cùng với vốn liếng gồm một sợi dây chuyền vàng, nhẫn vàng, đồng hồ do Mẹ tôi cho, rồi bỏ nhà ra Đà Nẵng, thuê nhà tạm trú, rồi mua cây, gỗ cất lên một căn nhà nhỏ để ở, bắt đầu từ làm nghề may, mua bán áo quần, sau đó, tôi mua bán thuốc Tây.

 

Tôi trở lại Đà Nẵng và Trà Kiệu lần này, tôi đã đến thăm Linh mục Lê Như Hảo, là Nghĩa Huynh của tôi, vì tôi đã được Thân Phụ và Thân Mẫu của Minh mục Lê Như Hảo là Cụ Ông Lê Như Hà và Cụ Bà Trần Thị Thanh Thu nhận làm Nghĩa Tử, để nhân dịp này, tôi xin ý kiến về trường hợp Mẹ tôi không cho phép tôi sống chung với TĐS, thì được Cha Lê Như Hảo bảo rằng:

 

“Cha thấy, nếu chỉ vì một lý do duy nhất, là TĐS nghèo, thì chưa đủ để mẹ của con làm như thế”.

 

 Và tôi cũng thấy TĐS nghèo, không là trở ngại, nhưng không thể kết hôn, khi không có sự đồng ý của Mẹ tôi, nên tôi đã SỐNG CHUNG với Trần Đăng Sơn, KHÔNG CHỊU PHÉP HÔN PHỐI – KHÔNG CÓ KẾT HÔN.

 

Chuyện sống chung giữa tôi và TĐS, Bác sĩ Phùng Văn Hạnh đã có viết qua, trong Hồi Ký của Ông.

 

 

7- Tôi đã rời Việt Nam như thế nào:

 

Tháng Chín năm 1986, tôi sinh đứa con gái lớn tại Đà Nẵng. Đến năm 1987, tôi được bà Nguyễn Thị Bé, là chủ một chiếc thuyền đánh cá (loại nhỏ), ngỏ ý muốn đưa cả gia đình đi vượt biển, nhưng gia đình này không biết làm cách nào để ra đi, và vì tin tưởng vào tôi, nên bà đã giao tôi cho công việc tổ chức cho chuyến vượt biển.

 

Tưởng cũng nên nói cho rõ, trước đó, người con trai của bà Bé, là tài công của chiếc thuyển đã nhiều lần đến nhà của Trung úy Cảnh sát Chung Phước Thành, là người mới ra khỏi nhà tù “cải tạo” của Việt cộng,  để “rủ” đi vượt biển; nhưng ông Chung Phước Thành không chấp nhận. Vì thế, bà Bé và người con trai đã phải nói với tôi, nhờ tôi tới nhà của ông Chung Phước Thành để nói chuyện vượt biển. Tôi đống ý.

 

Một điều mà mẹ con bà Bé, không thể ngờ, là ngay lần đầu tiên, khi con trai bà Bé đưa tôi đến nhà của Trung úy Chung Phước Thành, thì đã được ông Chung Phước Thành đã nói với tôi như sau:


“Chính chị nói, thì tôi mới tin, vì nói thiệt tôi rất sợ bị lừa gạt, bị mất vàng, mà có khi không những phải chỉ mất vàng, mà còn phải ở tù thêm lần nữa”.

 

 Sau đó, ông bà Chung Phước Thành đồng ý góp vàng, và cùng đi với chúng tôi, và còn mời tôi cùng ăn một bữa cơm trưa thân mật, để nhớ lại những ngày ở tù “cải tạo” của chế độ Cộng sản.

 

Cũng xin nói thêm, ngoài tôi, không một ai trên chuyến vượt biển này, có thể nói chuyện với ông Chung Phước Thành tin tưởng được. Mà không có ông bà Chung Phước Thành góp vàng, thì chúng tôi không thể ra đi, bởi chúng tôi không đủ vàng để tổ chức cho chuyến vượt biển. Về phần bà chủ chiếc thuyền đánh cá, ngoài chiếc thuyền nhỏ, bà rất nghèo, bà chỉ có một chiếc sạp bán ít món hàng vặt ngoài chợ, nhưng không có nhà ở, nên năm mẹ con của bà phải đi ngủ nhờ khắp xóm, có đêm ngủ nhờ trong nhà của tôi, nên khi mẹ con bà nói tới chuyện vượt biển, thì ông Chung Phước Thành không tin. Còn TĐS,  thì càng tệ hơn, vì ai cũng viết phải sống nhờ vào tôi, thì làm sao dám tới nhà của ông Chung Phước Thành để nói chuyện góp vàng vượt biển.

 

Trở lại với chuyến vượt biển. Nhân ngày “Tết Đoan Ngọ”,  Mồng 5 tháng 5/1987, chúng tôi gồm có 18 (mười tám) người, trong đó, có gia đình bà chủ thuyền, gia đình của ông Chung Phước Thành và người bạn của ông, là ông Nguyễn Văn Bình cũng là Tr/úy Cảnh sát mới ra tù “cải tạo” đã cùng nhau đóng góp vàng lại, để lo chu toàn mọi việc, và chúng tôi đã rời Việt Nam trên chiếc thuyền mang số 2324, vào lúc 11 giờ đêm, để vượt biển tìm tự do. Sau 21 ngày thuyền chết máy, trôi vô định trên đại dương, thì được tầu của cảnh sát Ma-Cao cứu vớt và kéo đến Hong Kong. Chúng tôi 18 người đã nhập trại CHIMAWAN CLOSED CENTER, Hong Kong vào ngày 29 tháng Sáu năm 1987.

 

 

8- Trần Đăng Sơn và tôi đã THUẬN TÌNH chia tay:

 

Xin trở lại câu chuyện giữa tôi vàTĐS. Trong suốt thời gian SỐNG CHUNG, riêng tôi đã hết sức cố gắng để có thể hòa hợp với nhau, hầu mong cho cuộc sống chung được lâu dài. Nhưng, tiếc rằng, mọi cố gắng của tôi đều không có kết quả. Vì thế, chúng tôi THUẬN TÌNH CHIA TAY. Và cho đến hôm nay, mặc dù, tôi không gặp lại TĐS, nhưng tôi biết một cách chắc chắn là hiện giờ, TĐS vẫn bình thường, chứ không có cái chuyện “TĐS lớn hơn Lệ Tuyền tới 30 (ba mươi) tuổi, (có nghĩa là nay đã gần một trăm tuổi) và cũng không “bị liệt” như Trần Hùng Văn đã bịa đặt ra, với mục đích bôi nhọ tôi, là “vì bị liệt nên HGTLT mới đi tìm người khác”.

 

 

9- Những liên quan với Việt Nam Quốc Dân Đảng:

 

Trở lại với những chuyện có liên quan tới VNQDĐ, sau khi đến tỵ nạn Cộng sản tại Pháp, tôi đã nhận được rất nhiều những lá thư của nhiều vị, trong số đó, có hai vị trước ngày 30/4/1975, từng là Phó chủ tịch Trung ương VNQDĐ, do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo. Cũng có nhiều vị từ Úc Châu, Âu Châu đã gặp mặt, hoặc đến nhà thăm. Trong số ấy, có cụ Nguyễn Văn Bình ở Đức quốc, là thân phụ của của chị Ngọc Minh, tức chị Hồng Hạnh. Cụ Nguyễn Văn Bình là đảng viên VNQDĐ thuộc “Xứ bộ miền Bắc” do Luật sư Lê Ngọc Chấn lãnh đạo (L/s Lê Ngọc Chấn là phu quân của Nữ sĩ Vân Nương đang tỵ nạn Cộng sản tại Pháp).Tôi vẫn còn giữ tất cả những gì do cụ Nguyễn Văn Bình đã gửi cho tôi, theo đề nghị của ông Hoàng Công Chữ…

 

(còn tiếp)

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Đọc tiếp: Trả lời Trần Hùng Văn, tức Việt Thường -Bài 2-

Trở Về