T  H  Ờ I   -   S Ự
MẶT THẬT CỦA TÊN VIỆT GIAN KIM ÂU (HÀ VĂN SƠN)
- LÃO MÓC NGUYỄN THIẾU NHẪN-

Trong một số bài viết vạch mặt mo của tên “Việt gian” Kim Âu (Hà Văn Sơn) (từ nay viết tắt là KA/HVS), nhà văn Trương Minh Hoà (TMH), người có 4 tác phẩm viết bằng Anh ngữ được nhà xuất bản SBPRA phát hành trên 100 nước có nhắc đến việc tên Việt gian KA/HVS đã đánh phá “người tù kiệt xuất” Nguyễn Hữu Luyện (NHL) và cá nhân tôi, Lão Móc (Nguyễn Thiếu Nhẫn).

Qua bài viết này, tôi sẽ trình bày mặt thật của tên Việt gian KA/HVS và lý do vì sao mà tên Việt gian này đã tìm mọi cách bịa điều, đặt chuyện để đánh phá những người làm những việc bất lợi cho Cộng Sản Việt Nam.

Đánh phá ông Nguyễn Hữu Luyện và vụ kiện William Joiner Center (WJC):

Từ năm 1998, đại học Massachusetts Boston (UMASS Boston) đã làm đề nghị xin $US250,000 của Quỹ Rockefeller để thực hiện một chương trình nghiên cứu mang tên “(Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora”, số tiền này được chuyển cho WJC để nghiên cứu về chương trình mà họ dịch ra Việt ngữ là “Tái Xây dựng Diện Mạo và Quê Hương của Người Việt ở Nước Ngoài”.

Ông NHL, người được ký giả Lô Răng tức cựu Trung Tá Phan Lạc Phúc viết bài ca tụng là “Người Tù Kiệt Xuất”, lúc đó đang theo học Ban Cao Học tại UMASS Boston vì nhận thấy đây là “việc nhuộm đỏ căn cước của 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại” của bọn phản chiến Mỹ và Việt gian nên đã cùng với 11 người khác  dung “tố quyền tập thể” kiện WJC ra toà về “tội kỳ thị việc làm”.

Cộng đồng Người Việt tỵ nạn Cộng Sản khắp nơi đã gây quỹ để xúc tiến vụ kiện để vô hiệu hoá chương trình “nhuộm đỏ căn cước của người Việt tỵ nạn cộng sản”.

Vụ kiện dù không kết quả như mong muốn; nhưng cái gọi là công trình “Tái Xây Dựng Diện mạo và Quê Hương của Người Việt ở nước ngoài” hoàn toàn thất bại vì đã có hà tì, không còn được các học giả xử dụng để nghiên cứu. (Xin xem đầy đủ vụ kiện trong phần phụ đính).

Cá nhân tôi, Nguyễn Thiếu Nhẫn đã gây quỹ tại Bắc California và được đồng hương đóng góp trên 30 ngàn đô-la.    

Trong khi đó, tên Việt gian KA/HVS đã đánh phá ông NHL qua bài viết “Hồi Chuông Báo Tử cho Người Tù Kiệt Xuất NHL”. Tên Việt gian này cũng lập luận y chang như “học giả VC” Nguyễn Huệ Chi là “ông NHL đi kiện WJC vì WJC không chịu nhận ông ta vào làm việc (sic!).”

Tên Việt gian KA/HVS đã viết như sau:

“Lịch sử Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản (NVTNCS) là sự nghiệp của toàn thể của những NVTNCS. Cuộc bỏ phiếu bằng chân, tự thân nó đã viết nên trang sử bi thảm, vẽ diện mạo chân thực của NVTNCS trước thế giới mà chẳng có chương trình nghiên cứu của đại học uy tín nào đủ tầm vóc bóp méo căn cước của NVTNCS ở xứ sở tự do này, quý vị có quyền muốn làm gì thì làm nhưng đừng nhân danh chiến đấu cho chúng tôi và những điều không thực.

Vụ WJC chỉ là một vụ kiện đòi bồi thường vì kỳ thị trong lúc đi xin việc không hơn không kém. Những lý lẽ dối trá, bất toàn của nó không thuyết phục được những người hiểu biết. Quý vị đừng hòng với ý nghĩ rằng việc quý vị mạo nhận là đại diện cho cộng đồng NVTNCS trong vụ kiện WJC làm cho nhân thân của quý vị trở thành bất khả xâm phạm. Vụ kiện của quý vị đối với chúng tôi thắng hay bại đối với chúng tôi không quan trọng. Điều quan trọng nhất là: chúng tôi vĩnh viễn không bao giờ chấp nhận Cộng sản, vĩnh viễn không hoà hợp, hoà giải với chúng nó, vĩnh viễn không chấp nhận bất cứ tổ chức hoạt đầu nào nhân danh đại diện chúng tôi để mưu toan làm tay sai cho ngoại bang và CS để chia chác tài nguyên của Tổ Quốc, buôn xương bán máu của Dân Tộc Việt Nam.” (Trích bài có tựa như trên của KA/HVS).

Đây đúng là luận điệu của “bọn ma tru”, những kẻ “chỉ biết tru mà không biết tri”! Vụ kiện WJC là một việc làm “thiên kinh, địa nghĩa” nhằm bảo vệ căn cước của hơn 3 triệu người Việt tỵ nan CS tại hải ngoại được khắp nơi yểm trợ. Ông NHL và 11 người khác dùng tố quyền tập thể kiện WJC về “chuyện kỳ thị việc làm” chỉ là một cái cớ để vô hiệu hoá việc làm của WJC. Tên Việt gian KA/HVS nổ rổn rảng rằng những người đứng ra kiện WJC “chỉ để làm cho nhân thân quý vị trở thành bất khả xâm phạm (sic!)”. Đúng là “điếc hay ngóng, ngọng hay nói”. Tên Việt gian KA/HVS nói rất đúng: “Việc thắng hay bại của vụ kiện đối với nó đâu có quan trọng”; bởi chính nó là thằng đứng ra chống đối. Chuyện khôi hài là nó khoe mẽ chuyện nó “không chấp nhận CS, không hoà hợp hoà giải v.v… và v.v…”. Nhưng những thằng như thằng Việt gian KA/HVS lại là những thằng nói một đường, làm một nẻo. Chính nó, sau này đã lộ cái mặt mẹt là đi theo bợ đít thằng “Việt Cộng tân tòng” Hoàng Duy Hùng (HDH) và Nguyễn Văn Tánh, kẻ đứng sau lưng thực hiện việc xé Cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ ra làm hai.

- Đánh phá Lão Móc bằng cách “cắt, đốt, cột” 2 bài thơ trong cái tự truyện “Tự Thú Của Một Tù Binh”:

 Vì hỗn láo viết bài mạt sát Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là “lính đánh thuê của đế quốc Mỹ” bị Lão Móc viết bài dạy dỗ tới nơi, tới chốn; do đó, tên Việt gian KA/HVS và bọn vô lại đã “cắt, đốt, cột” 2 bài thơ trong cái tự truyện mà LM muốn chứng minh cho mọi người biết không thể nào hoà hợp hoà giải với VC. Bọn vô lại gồm Tuấn Lê, đảng viên VT, đệ tử của tên buôn xương, bán cốt tử sĩ QLVNCH là Nguyễn Đạc Thành, tên công an bị tội ấu dâm Lê Nguyên Hồng, kẻ đã tự xưng thuộc Khối 8406 được bà BT, đảng viên VT bảo lãnh qua Úc, các tên Tru Tắt Tiếng, mụ ĐKCC Đỗ Thứng, tên nhà văn “phân bắc, phân xanh” Nguyễn Hữu Nghĩa v.v…

Bọn chúng nó đã bị bình luận gia Kiêm Ái, nhà văn, luật sư Dương Thành Lợi và LM vạch rõ những cái mặt mẹt đã giở trò “Tăng Sâm giết người” khiến chúng nó phải ngậm câm miệng hến.

Nhưng, chua xót thay! Những kẻ như Chu Tấn (Trần Như Huỳnh) đã nổi tiếng Thủ Tướng Tâm Thần, kẻ đã cùng với “sử gia” Phạm Trần Anh của tổ chức Đại Hội Diên Hồng thời đại lại nhai lại những bãi ói mà bọn vô lại chúng nó đã ói ra. Nhưng kẻ như linh mục Phan Văn Lợi của Khối 8406 cũng đã làm việc tương tự như Chu Tấn (TNH) đã làm! Kẻ thì núp dưới đũng quần mụ Đỗ Thứng kêu gào đấu tố LM! Kẻ thì đưa lại 2 bài thơ để phản ứng vì bị LM vạch cái mặt mẹt đã bợ đít tên “Dịch Nha tân thời” Ngô Thanh Hải không đúng chỗ!

   <>Riêng tên Việt gian KA/HVS vì bị nhà văn Trương Minh Hoà (TMH) đánh đau quắn đít đã đặt điều, bịa chuyện một cách rất là ngu xuẩn khiến dư luận nhìn rõ bộ mặt thật của tên Việt gian KA/HVS, một kẻ từ 17 tuổi đã phải bỏ nhà đi lính Biệt Kích vì bị chính cha ruột của mình bạt tai, đá đít vì đã làm chuyện tồi bại, do đó, y đã suy bụng Hà Văn Són ra bụng Trương Minh Hoà!

Một kẻ đã tìm mọi cách đánh phá cấp lãnh đạo của mình là “người tù kiệt xuất” NHL như HVS, một kẻ đã trấn lột cha ruột của mình để đòi tiền tử, một kẻ đã bợ đít tên “Việt Cộng tân tòng” HDH - như HVS thì làm sao có đủ tư cách đế nói đến chuyện tranh đấu chống Cộng?! 

Cái mặt mẹt chống Cộng để ra giá với VC của tên Việt gian KA/HVS đã rơi xuống!

Nhà văn TMH bằng những phân tích sắc bén đã làm rõ bộ mặt thật của tên Việt gian này. Do đó, chúng nó: KA/HVS, tên Chính Cống Vẹm, con nuôi của tên đặc công đỏ Vẹm Thường Trần Hùng Văn, tên Sáu Góp Cứt (do tên nhà văn “phân bắc, phân xanh” NHN đi gánh về)… chúng nó đã ba mũi giáp công tấn công Trương Minh Hoà, Lão Móc và ông Hứa Vạng Thọ, người chủ trương trang báo điện tử TinParis.

Việc làm của chúng nó chỉ càng làm sáng ngời chính nghĩa những việc làm của chúng tôi

Trong quyển “The Life Stories: Pregnant Women At Sea” của tôi mà nhà xuất bản SBPRA sắp phát hành có cái tự truyện “The Confessional Parole of a Prisoner of War in Re-education Camp” viết lại từ tự truyện “Tự Thú Của Một Tù Binh”.

KA/HVS chê bai nhà văn TMH thế này, thế nọ, khoe mẽ về cả bồ Anh ngữ của mình. Đề nghị KA/HVS và bọn vô lại “cắt, đốt, cột” bài thơ “ca tụng HCM” để đấu tố Lão Móc tiếp cho những người xử dụng Anh ngữ trên khắp thế giới “biết” cách đấu tố của bọn Việt Cộng và bọn Việt gian… để TMH không còn khoe mẽ là đã “khắc hình Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong tim của người ngoại quốc”!

LÃO MÓC NGUYỄN THIẾU NHẪN

*
*   *

  • PHỤ ĐÍNH:
VỤ KIỆN WILLIAM JOINER CENTER - NGUYỄN THIẾU NHẪN

 

Sau cuộc hội thảo Bể Dâu tại San Francisco, một biến cố quan trọng đã xảy ra là Trung tâm William Joiner Center (WJC) thuộc trường đại học Massachusetts Boston (từ nay viết tắt là UMASS Boston) đã thuê mướn hai học giả ở trong nước là Hoàng Ngọc Hiến Nguyễn Huệ Chi viết các luận văn tập chú vào chủ đề "Reconstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora." được WJC dịch ra Việt ngữ với nguyên văn như sau: "Tái Xây Dựng Diện Mạo và Quê Hương Người Việt Ở Nước Ngoài."

Hoàng Ngọc Hiến nguyên là Giám đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du, Hà Nội và Nguyễn Huệ Chi là chủ nhiệm Ban Nghiên cứu và Lý luận Văn học của Viện Văn học Việt Nam.

Nhận thấy việc đem hai viên chức cao cấp trong guồng máy tuyên truyền của nhà nước CSVN sang Mỹ để mô tả người Việt tỵ nạn là một nghịch lý trong lịch sử văn học thế giới, nên ông Nguyễn Hữu Luyện, một sinh viên Cao Học của UMASS Boston đã cùng 11 người dùng tố quyền tập thể (class action) để khởi tố WJC/UMASS Boston.

Để trả lời sự tố giác của ông Nguyễn Hữu Luyện, một trong 12 nguyên đơn của vụ kiện WJC đối với hai cán bộ cộng sản Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến, Kevin Bowen của WJC nói rằng: "Hai giáo sư này đã được đón tiếp nồng nhiệt và đã được cộng đồng người Việt  mời đi nói chuyện tại Washington D.C., Texas và California" và rằng "những cuộc thăm viếng ấy là những thành công lớn."

Thực ra đây chỉ là sự bịa đặt của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung, vì không có cộng đồng nào mời hai ông này đến nói chuyện thì làm sao có sự thành công to lớn?

Có điều hai "học giả" VC này, nhất là Hoàng Ngọc Hiến đã được một số người ở hải ngoại chuẩn bị từ lâu.

Từ năm 1990, nhà phê bình văn học Thụy Khuê, một người sinh sống tại miền Nam, du học tại Pháp từ trước năm 1975, đã tốt nghiệp và đã ở lại Pháp đã "chuẩn bị" cho Hoàng Ngọc Hiến là "một nhà văn phản kháng" như sau: "... Ở miền Bắc, khi Việt Minh lên nắm chính quyền, sự bạo tàn của đảng Cộng sản đối với tư tưởng đã tàn khốc hơn sự hy sinh xương máu con người, và hủy diệt nhiều thế hệ tâm hồn, biến đất nước thành một ngục tù giam hãm tư tưởng. Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Hoàng Cầm... Rồi Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương đã nói nhiều, nói rõ, đã vẽ lên nỗi oan khuất của một thế kỷ văn học mà nhà văn chỉ là công cụ cho đảng." (1)

Hai tạp chí Văn Học (do Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Khởi Phong thay thế nhau trong vai trò chủ bút) và Hợp Lưu của Khánh Trường đã đánh bóng rất kỹ cho hai cán bộ VC Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi.

Tại San José, nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc đã trang trọng giới thiệu Hoàng Ngọc Hiến là "một người khách thuộc chương trình khách quốc tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, là người viết bài đầu tiên trong đợt gọi là văn chương phản kháng của thời kỳ Thống Nhất đất nước..." (với chữ "Thống Nhất" do ông nhà văn Giao Chỉ viết hoa) khi đăng tải lại bài viết "Ngọn gió thổi những chiếc lá bay qua đại dương" trên tờ Thời Báo ở San José, để ông cán bộ văn hóa VC Hoàng Ngọc Hiến "kề vai, cọ vế" với các nhà văn ở hải ngoại.

Tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Khởi Phong đã tạo diễn đàn để Nguyễn Huệ Chi lấy tên của các tác phẩm "phe ta" làm ý diễn đạt quan điểm của mình như sau: "Trong khi một số nhà văn lớp trước bớt nói đến ẩn ức chính trị, đi tìm cảm hứng trong lịch sử hoặc trong những chiêm nghiệm thân thế, trầm mặc về đời người - những 'ngọn cỏ bồng', cánh 'bèo giạt', 'nụ cười tre trúc', 'ngọn hải đăng mù' - sau nửa thế kỷ vần vũ không biết bao nhiêu 'lớp sóng phế hưng', 'mùa biển động', 'gió lửa', thì đông đảo các nhà văn trẻ - mà số lượng nữ khá vượt trội - lại mãi mê ghi lại vô vàn cảnh lý thú, nực cười của cuộc mưu sinh tất bật nơi quê hương mới, nhiều nhà văn trẻ khác dồn năng lực tìm tòi cách viết mới, cách xếp đặc câu xếp đặc chữ tân kỳ, cách ám dụ bằng biểu tượng cho văn chương thêm đa nghĩa, và cũng không có ít nhà văn không chút thờ ơ trước luồng gió đổi mới từ trong nước, đang cố gắng thoát ra khỏi những mặc cảm quá khứ, chủ động lên tiếng 'hợp lưu' để cùng với dòng văn học Việt có trong có ngoài, trong sự cảm thông của những người cầm bút."

Và, tại Bắc Califonia, Thượng Văn (tức ký giả Lâm Văn Sang - đã từng là phóng viên của tuần báo "ốc Mỹ mượn hồn Việt" Viet Mercury, hiện là Tổng thư ký tuần báo V-Times do Trần Đệ làm chủ nhiệm), một trong những người chủ trương tạp chí Nhân Văn (đã đình bản từ lâu) đã tạo môi trường là đã phỏng vấn có những câu hỏi cò mồi để Nguyễn Huệ Chi có dịp nhi nhô về chuyện WJC đã bị kiện ra tòa án Hoa Kỳ vì đã mời ông ta và Hoàng Ngọc Hiến viết về người Việt tỵ nạn cộng sản. Cuộc phỏng vấn vào tháng 9 năm 2001 có câu hỏi cò mồi như sau:

-Thượng Văn (Lâm Văn Sang) hỏi: Anh nghĩ gì về phản ứng của người Việt hải ngoại chống đối sự có mặt của anh Hoàng Ngọc Hiến và anh trong chương trình của WJC?

-Nguyễn Huệ Chi đáp: Theo tôi đấy không phải là phản ứng của mọi người Việt mà chỉ là thiểu số. Người đứng đầu là ông Nguyễn Hữu Luyện. Tôi không hiểu rõ động cơ đích thực của ông Luyện trong việc phản đối này, nhưng nói rằng người trong nước không hiểu gì về đời sống người Việt hải ngoại thì không thể viết được là không hợp lý. Khi có một chương trình như thế cần phải có cái nhìn từ nhiều phía, trong cũng như ngoài nước mới soi rọi được mẫu số chung. WJC muốn như thế nên đợt đầu đã tuyển hai người Mỹ và hai chúng tôi. Đợt hai sắp tới nghe nói có 8 người: một người ở Canada, một người ở Pháp và 6 người ở Mỹ. Thế là WJC tương đối công bình chứ không phải có cái nhìn thiên vị. Thứ hai, theo tôi nghĩ, đâu cứ phải cử người nào sang đây cũng có cái nhìn méo mó về người Việt bên này. Những người đã nghe theo ông Nguyễn Hữu Luyện chống chúng tôi, tôi không muốn nghĩ xấu về họ. Mỗi người có thể xuất phát từ những hoàn cảnh éo le nào đấy mà bày tỏ thái độ, chẳng hạn trong gia đình có người vượt biên chẳng may đi không đến, nỗi đau đó của họ tôi sao có thể thờ ơ. Khi ở xa nhìn nhau đôi khi ta tưởng có thể đánh nhau được đây nhưng đến gần thì sao. Thấy mặt mũi anh này có khi cũng có thể nói dăm ba câu. Nói dăm ba câu lại thấy có thể chơi nhau một tuần. Chơi nhau một tuần hóa ra có thể chơi lâu. Tôi nghĩ chỗ đó là mẫu số chung của người Việt. Chấp nhận sự khác nhau, trọng hòa hơn đồng, nét đặc sắc văn hóa Việt là ở đó."

Hơn ai hết, chắc ông Lâm Văn Sang phải thấy đây là một câu trả lời lố bịch của "học giả" ông Nguyễn Huệ Chi. Ông "học giả" Nguyễn Huệ Chi có thể vì thiếu thông tin mà cho rằng: "đấy không phải là phản ứng của mọi người Việt mà chỉ là thiểu số." Hơn ai hết, ông Lâm Văn Sang phải biết vụ kiện WJC không phải chỉ có ông Nguyễn Hữu Luyện và 11 nguyên đơn đứng tên kiện mà là vụ án của 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Bằng chứng là ông Nguyễn Hữu Luyện được các cộng đồng tại Canada, Úc, Hoa Kỳ đông đảo lên tiếng ủng hộ và đóng góp tiền bạc để ông Nguyễn Hữu Luyện và 11 nguyên đơn đi kiện WJC. Trong trường hợp ông Lâm Văn Sang và những-người-cùng-đi-một-đường với ông Lâm Văn Sang đồng ý với câu trả lời của ông "học giả" Nguyễn Huệ Chi vì các ông không đứng chung với 3 triệu người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản thì chúng tôi xin tôn trọng ý kiến của các ông. Chúng tôi xin không dám nói như nhà văn Sơn Tùng là: "Sự thật hai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến đã đến Mỹ trong âm thầm và cũng đã trở về Việt Nam trong âm thầm. Không có cộng đồng người Việt ở hải ngoại mời họ đến nói chuyện thì làm sao có sự thành công lớn? Họ có đi Hoa Thịnh Đốn, Texas và California thật, nhưng cũng đã đi trong âm thầm dưới sự che giấu của vài người quen hay những tổ chức thân cộng nằm vùng để cho biết đó biết đây, thu nhặt ít đồ kỷ niệm hay quà cáp của tư bản, đem về khoác lác với bà con, bạn bè và viết vài bài báo bịa đặt - như Bowen đã bịa đặt."

*

Tám người được tuyển chọn cho chương trình của WJC niên khóa 2001-2002 gồm có:

1. Karin Aigular-San Juan, Giáo sư ngành bắc Mỹ Đại học Macalester.

2. Đặng Tiến, Giáo sư Văn học Cổ điển Việt Nam, đại học Paris VII.

3. Đỗ Quyên, nhà phê bình văn học.

4. Nguyễn Hữu Liêm, Giáo sư Triết học Đại học San Jose City College.

5. Nguyễn Thị Thanh, Giaó sư Giáo dục, University of Massachusetts.

6. Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Triết, Cựu Khoa trưởng Đại học Văn khoa Sàigòn.

7. Tạ Chí Đại Trường, Sử gia.

8. Trin Yarborough, Ký giả.

Mười lăm người được tuyển chọn cho "Chương trình Rockefeller Nghiên Cứu Về Người Việt ở Nước Ngoài" cho niên khóa 2002-2003 gồm có:

1. Mariam Beevi, sinh viên Tiến sĩ ngành Văn chương Tỷ giảo, University of California Irvine.

2. Sergei Balgov, Nhà Nghiên cứu và Chuyên gia về đạo Cao Đài và Hòa Hảo.

3. Bùi Thị Lan Hương, Nhà văn, nhà báo.

4. Đỗ Minh Tuấn, Đạo diễn, Nhà văn, Nhà báo, Họa sỹ, và Kịch gia.

5. Maureen Feeney, Sinh viên Tiến sĩ ngành Nhân chủng học Văn hóa, University of Michigan, Ann Arbor.

6. Hoàng Khởi Phong, Nhà văn, Nhà báo, cựu đại úy QLVNCH.

7. Nguyễn Ý Đức, bác sĩ Gia đình và Lão khoa, sáng lập tổ chức Cộng đồng Việt Nam tại Baton Rouge và vùng phụ cận.

8. Nguyễn Mộng Giác, Chủ bút tạp chí Văn Học, nhà văn.

9. Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), Nhà Kinh tế, nhà văn, nhà thơ, kịch gia.

10. Nguyễn Vy Khanh, Nhà thư viện học, Nhà phê bình, sáng lập viên và Tổng Thư ký Liên Hội Người Việt Tự Do hải Ngoại (1994-1997).

11. Phạm Xuân Nguyên, Nhà phê bình, Chuyên gia về Văn học miền Nam trước 1975.

12. Phan Huy Đường, dịch giả, triết gia, phê bình gia.

13. Meridel Rubenstein, Nhà Nghệ thuật, Nhiếp ảnh gia, Giáo sư Thỉnh giảng tại Smith College.

14. Trần Văn Thủy, Nhà đạo diễn phim tài liệu xã hội.

15. Indigo A. Williams, nhà hoạt động xã hội, Nghiên cứu gia.

Trong danh sách đợt 2 của WJC, người ta thấy có 2 người chuyên viết những bài vở có lợi cho VC là Giáo sư Đặng Tiến ở Paris và luật sư Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose.

Trong danh sách đợt 3 của WJC, người ta thấy có 3 nhà văn đã có tác phẩm được in trong quyển "The Other Side of Heaven" (Phía Bên Kia Thiên Đường) là quyển sách được đem ra bình văn với mục đích giao lưu văn hóa trong cuộc hội thảo "Bể Dâu" tại San Francisco là các ông Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Mộng Giác, Phan Huy Đường.

Theo tuyên bố của tên Việt gian Nguyễn Bá Chung thì nhà văn Hoàng Khởi Phong sẽ viết về đề tài "Những Nhà Văn Gốc Quân Đội Trong Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại," Nguyễn Mộng Giác với "Sơ Thảo Về Các Giai Đoạn Thành Hình và Phát Triễn của Giòng Văn Xuôi ở Hải Ngoại Từ Năm 1975 đến 2000."

*

Cách đây 8 năm, khi nhà văn Nguyễn Mộng Giác chọn làm người cầm bút "bất thường" - nói theo cách nói của ông ta - đi vào bên trong cuộc hội thảo "Bể Dâu" do Vũ Đức Vượng, một du sinh trước năm 1975 tổ chức, chúng tôi đã viết bài "Máu Nào Đã Đổ Xuống, Mực Nào Đã Viết Ra Trong Cuộc 'Bể Dâu' này" để lên tiếng về việc làm này là đã tạo diễn đàn để  Cộng sản Việt Nam giao lưu văn hóa một chiều trong trận "vận động chiến" tấn công vào "mặt trận giao lưu văn hóa một chiều" ở hải ngoại. Bài viết này đã được in trong tập tạp luận "Máu Mực Bể Dâu" do Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do Hải Ngoại xuất bản vào năm 2002.

Tám năm sau, lời than vãn của nhà văn Nguyễn Mộng Giác về việc nhà cầm quyền CSVN "cấm đoán không cho sách báo hải ngoại phổ biến trong nước, hay ít nhất không tạo điều kiện cho những người cầm bút tiếp cận với văn học hải ngoại, thì những lời tuyên bố như trên chỉ là những lời tuyên truyền chính trị" đã không còn đúng với ông ta nữa. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác và nhà văn Nhật Tiến đã được CSVN cho phép in và phổ biến tác phẩm ở trong nước. Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Khởi Phong lại được tên Việt gian Nguyễn Bá Chung, một du sinh trước năm 1975 móc nối để cùng Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi và WJC thực hiện âm mưu thâm độc là viết "tờ căn cước đỏ" cho 3 triệu người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản.

Chuyện này không phải là chuyện lạ vì thời nào chẳng có những kẻ bám đuôi theo kẻ mạnh để kiếm miếng đỉng chung, kiếm chút danh lợi cuối đời. Nhưng thời nào cũng thế: nếu đã có "Tụng Tây Hồ phú" thì ắt có "Chiến Tụng Tây Hồ phú"; nếu đã có Tôn Thọ Tường vì tham miếng đỉnh chung, cam tâm cúi đầu theo giặc Pháp, mượn hơi giặc Pháp hăm he những người yêu nước:

"Miệng cọp, hàm rồng đâu dễ chọc
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay."

Thì ắt sẽ có  Phan Văn Trị nói lời khẳng khái, quyết liệt:

"Chớ mượn hơi hùm rung nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há lung lay!"

*

Ngày 23 tháng 5 năm 2003, truyền hình Việt Nam tại Boston có tường trình vụ WJC họp với một số nhà văn Việt Nam và Mỹ tại trường đại học Harvard.

Toàn bộ vấn đề nhà văn Nguyễn Mộng Giác nêu lên bằng Việt ngữ được Nguyễn Bá Chung chuyển qua Anh ngữ gồm hai điểm chính:

-Giới nhà văn trẻ du học trước năm 1975 tham dự phong trào phản chiến bị cộng đồng gọi là Việt Cộng (sic!)

-Nguồn văn học hải ngoại hiện nay đang tập trung tại Hoa Kỳ, nhưng trong tương lai, các nhà văn trẻ tại Đức vốn sẵn có nhiều quan tâm đến tình hình trong nước và có nhiều hiểu biết về những vấn đề trong nước hơn, sẽ giành ưu thế và chuyển trung tâm văn học Mỹ sang Âu Châu.

Xin không đề cập đến việc nhà văn Nguyễn Mộng Giác tiên đoán "trung tâm văn học Mỹ sẽ chuyển sang Âu Châu" trong tương lai, để, từ đó, "Ủy ban người Việt nước ngoài" của CSVN thiết lập chiến lược tiêu diệt những hoạt động văn hóa của cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản có hiệu quả hơn, vì đó là quyền tự do của nhà văn Nguyễn Mộng giác và những người đang-cùng-đi-một-đường với ông ta.

Trong bài viết này chúng tôi xin được đề cập đến việc nhà văn Nguyễn Mộng Giác "gán tội" cho cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản "đã gọi những nhà văn trẻ du học trước năm 1975 tham dự phong trào phản chiến là Việt Cộng." Theo tôi, đây là một nhận định không được chính xác, nếu không muốn nói là hàm hồ. Không có cộng đồng nào gọi "những nhà văn trẻ du học trước năm 1975 tham dự phong trào phản chiến là Việt Cộng" cả, mà chính những người này đã tự khắc lên trán mình mấy chữ "Việt gian", "tay sai Việt Cộng" - cũng giống như cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản đã dùng những chữ "Việt gian", "tay sai Việt Cộng" để gọi những kẻ đã từng là sĩ quan phục vụ trong hàng ngũ QLVNCH, đã sợ VC trả thù khi chúng chiếm được miền Nam nên đã phải "di tản" từ tháng 4 năm 1975, nhưng khi được tên văn nô VC Trần Văn Thủy phỏng vấn và đăng lại trong quyển "Nếu Đi Hết Biển" lại tuyên bố là mình "trốn chạy tổ quốc". Cũng như cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản đã gọi những tên nhà văn đã tạo diễn dàn để VC có cơ hội tấn công vào mặt trận giao lưu văn hóa tại hải ngoại là "bọn Việt gian", "bọn tay sai Việt Cộng!" Không cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản gọi những kẻ này là Việt Cộng. Việt Cộng cũng không coi những kẻ này là đồng bọn mà chỉ coi là những kẻ tay sai!

Nguyễn Bá Chung, du học sinh trước năm 1975, kẻ đã chê bai chế độ miền Nam đã tham nhũng, đã nhận tiền hối lộ để cấp giấy phép cho anh ta đi du học trong lúc hàng trăm ngàn thanh niên khác cùng trang lứa với anh ta đang phải hy sinh xương máu để bảo vệ chế độ miền Nam, kẻ đã làm bài thơ "Nguyễn Bính" với hai câu:

"Nửa đời mới biết công danh hảo
Giày cỏ gươm cùn đến trắng tay"

để Hoàng Ngọc Hiến dùng thủ thuật trích dẫn để diễn giải là "có thể hiểu với ý nghĩa thời sự là tác giả mượn thân phận của nhà thơ giang hồ họ Nguyễn để cảm khái tâm trạng vỡ mộng của mình và những chàng trai cùng thế hệ hiện đương long đong nơi đất khách quê người." (3)

Với tư cách Giám đốc Chương trình Nghiên cứu về người tỵ nạn cộng sản, Nguyễn Bá Chung đã làm bài thơ "Di tản" mô tả thế hệ di tản như sau:

"Là mảnh vụn của sỏi đá
là giọt nước của ao tù
là tia nắng cuối cùng mong manh
là viên đạn lép
    cuối lòng súng rỉ
là ngôn ngữ bất lực
    của tháng ngày bất lực
là vết bầm cuối cùng
    của cuộc nội thương
là vết rêu của sỏi đá
là hơi sương trên ao tù
là tia nắng cuối đời mong manh
là viên đạn lép
    không bao giờ bắn nữa
là ngôn ngữ khởi đầu
    khi tiếng bom chấm dứt
là những gì còn đọng lại
    sau cơn động đất cuối mùa."

Thử hỏi với bài thơ bêu rếu những người di tản như trên, với việc làm tiếp tay với WJC để viết "tờ căn cước đỏ" cho 3 triệu người Việt tỵ nạn, cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại nếu không dùng mấy chữ "Việt gian", "tay sai Việt Cộng" để gọi "ông du học sinh trước năm 1975" Nguyễn Bá Chung thì cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn phải gọi ông du học sinh này là gì?

Không cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản nào gọi "du học sinh trước năm 1975" Vũ Đức Vượng là Việt Cộng. Là Giám đốc Trung tâm Định Cư Đông Nam Á, Vượng đã bị Ban Giám đốc Trung tâm này tống cổ ra khỏi Trung tâm vì những việc làm có lợi cho Việt Cộng như kêu gọi bỏ cấm vận, tổ chức hội thảo "Bể Dâu", tổ chức Việt Expo, công khai bày bán các báo chí của VC và những việc làm tác hại khác. Cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản không gọi Vượng là Việt Cộng, cộng đồng đã dùng mấy chữ "Việt gian", "tay sai Việt Cộng" để gọi ông này. Mới đây, ông "Việt gian" này lại nỏ mồm ra chê bai báo chí Việt ngữ tại Bắc California, cũng không ai gọi ông này là "Việt Cộng" - như ông nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã hồ đồ kết tội cộng đồng!

Những người có quan tâm đến văn học, đến việc làm của các du học sinh trước năm 1975, đều biết Đặng Tiến, kẻ đã du học tại Pháp, đã đổ đạt và đã ở lại Pháp. Trong bút hiệu Nam Chi, Đặng Tiến đã viết những bài phê bình văn học đăng trên tờ Đoàn Kết, tờ báo của "Việt kiều yêu nước" tại Paris. Trong các bài viết về các nhà văn, nhà thơ hải ngoại, Nam Chi không hề để lộ ra bất cứ một dấu vết nào chứng tỏ mình là cộng sản. Biện minh lý do tại sao mình thích và chọn bình thơ Nguyễn Bá Trạc, Nam Chi cho biết ông yêu cái "tia nắng an lành... niềm vui mới" của nhà thơ này. Qua một số bài viết khác, những người có theo dõi cũng được biết Nam Chi Đặng Tiến đã nhiệt liệt khen ngợi bài thơ "Tôi đi trên những con đường rừng cũ" của "kháng chiến quân" Hoàng Phủ Ngọc Tường là "kết hợp được ý chí chiến đấu với một niềm u hoài khó tả" và khi đọc bài viết của Nam Chi viết về Tố Hữu với câu kết thúc bằng một lời "phảng phất ngọc lan chi vị": "Đọc thơ Tố Hữu, càng đọc càng yêu" thì người ta mới thấy cái thái độ xum xoe, bợ đỡ, "hôn đít bạo quyền" (kiss asser) của Đặng Tiến cứ như là một đối tượng Đảng không bằng! (4) 

Các ông nhà văn, nhà thơ, nhà báo "du học sinh trước năm 1975" như các ông Nguyễn Bá Chung, Vũ Đức Vượng, Đặng Tiến v.v...được những người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản gọi họ là "Việt gian", là "tay sai Việt Cộng" bởi vì chính các ông này đã khắc lên trán mình mấy chữ này, chứ không có cộng đồng người Việt nào gọi mấy ông này là "Việt Cộng" cả. Đề nghị nhà văn Nguyễn Mộng Giác muốn xum xoe, bợ đỡ những người này để được tiếp tay với họ để làm "Việt gian", làm "tay sai Việt Cộng" thì cứ làm. Đừng tìm cách biện minh này nọ mà làm gì.

Cùng với Hoàng Khởi Phong, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã được "Việt gian" Nguyễn Bá Chung "trả công bội hậu" là đã được WJC  tuyển chọn trong đợt 3 để tiếp tục ông việc viết lại "tờ căn cước đỏ" cho cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng sản mà hai cán bộ VC Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi với sự tiếp tay của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung đã khởi đầu và đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của "những người không chịu vui niềm viui mới giữa những tang thương và đau khổ của đất nước" (4), đã dẫn đến vụ kiện Trung tâm William Joiner ra trước tòa án Hoa Kỳ.

Theo bản tin ngày 22 tháng 5 năm 2003 của ông Nguyễn Hữu Luyện gửi cho cộng đồng thì phía bị cáo WJC đã xin hoãn phiên xử tới ngày  16-12- 2003 để xin giải quyết ngoài tòa án và xin bồi thường 250.000 Mỹ kim và một lá thư xin lỗi, nhưng ông Nguyễn Hữu Luyện đã không đồng ý, vì theo ông Luyện, chúng ta cần một bản án để vô hiệu hóa chương trình nghiên cứu đầy tội ác của WJC nhằm bảo vệ vị trí lịch sử của 3 triệu người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng sản.

Ngày 20-5-2006, ông Nguyễn Hữu Luyện đã thông báo đến cộng đồng kết quả mới nhất của vụ kiện như sau:

"Kính thưa quý vị,

Nhóm nguyên đơn xin kính báo, ngày 11 tháng 5 năm 2006, tòa Phúc Thẩm (Appeals Court) đã ra quyết định bác đơn chống phán quyết về vụ kiện WJC/UMB của tòa superior. Trong vụ kiện này, ngoài cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, đồng bào ta tại nhiều quốc gia khác, đặc biệt là Úc Châu và Canada, đã tận tình yểm trợ vụ kiện cả về tài chánh lẫn tinh thần trong suốt sáu năm qua để cuộc đấu tranh trong lãnh vực pháp lý giành thắng lợi cho tiếng nói chân chính của các thế hệ tỵ nạn và hậu tỵ nạn (post refugee era) trong dòng sử Hoa Kỳ và thế giới. Hôm nay chúng tôi rất buồn và cảm thấy có lỗi với cộng đồng người Việt ở khắp nơi về thất bại này, tuy nhiên, đây chưa phải là thất bại cuối cùng. Trên thế gian này, việc gì xảy ra cũng có nguyên nhân của nó. Nhóm nguyên đơn không đưa ra bất cứ một nguyên nhân nào để quy sự thất bại này vào đó.

Kính xin quý vị xem bản thông báo của Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson, qua đó, quý vị sẽ rõ những việc tổ hợp luật sư sẽ làm để tiếp tục cuộc đấu tranh này."

Sau đây là lá thư đề ngày 17-5-2006 của Luật sư Bradley S.Clanton, được ông Nguyễn Hữu Luyện đại diện nhóm nguyên đơn, chuyển ngữ như sau:

"Với sự thất vọng cao độ, chúng tôi kính báo quý vị việc tòa Phúc Thẩm (Appeals Court) của tiểu bang Massachusetts bác đơn của chúng ta chống phán quyết về vụ kieện WJC/UBM của tòa Superior. Quyết định của tòa phúc thẩm được ban hành ngày 11 tháng 5-2006. Theo tòa phúc thẩm thì nguyên đơn không dẫn chứng được thành phần nạn nhân bị kỳ thị là thành phần được che chở bởi luật của tiểu bang Massachusetts. Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với quyết định của tòa Phúc Thẩm, do đó chúng tôi phải xin duyệt xét lại quyết định đó.

Công việc đầu tiên của chúng tôi là xin tòa Phúc Thẩm cho "Tái Điều Trần" về quyết định này. Đệ đơn xin như vậy là một việc phải làm trước khi chuyển lên tòa tối cao của tiểu bang Massachusetts. Đơn xin đó phải đệ trình trong vòng 14 ngày sau khi tòa phúc thẩm bác đơn xin của chúng ta, lúc đó chúng ta mới được xin toà tối cao của tiểu bang Massachusetts xét lại quyết định của tòa phúc thẩm.

Chúng tôi thấy rằng không thể nào đoán trước được một cách chính xác là tòa án tối cao của tiểu bang Massachusetts sẽ xét lại quyết định đó như thế nào. Tuy nhiên, xin hãy vững lòng tin rằng chúng tôi sẽ theo đuổi việc này với tất cả nỗ lực của chúng tôi."

* 

Chương trình nghiên cứu của WJC là một chương trình nghiên cứu đầy tội ác nhằm viết lại "tờ căn cước đỏ" cho 3 triệu người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản. Tiếc thay, có một số người Việt tỵ nạn cộng sản mau quên quá khứ, vì chút danh lợi cuối đời đã tham dự chương trình WJC để làm bình phong cho WJC thực hiện công trình tội ác do nhóm phản chiến Hoa Kỳ (David Hunt và Kevin Bowen) và tay sai Việt Cộng như Nguyễn Bá Chung chủ trương thực hiện.

Việc ông Nguyễn Hữu Luyện cùng 11 nguyên đơn đứng ra kiện WJC là một việc làm thiên kinh, địa nghĩa đã được đồng bào khắp nơi nhiệt tình hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất. Tiếc thay, vẫn có một thiểu số đặc công truyền thông tiếp tay đánh phá. Nhưng chúng ta vẫn vững tin rằng rồi ra chính nghĩa sẽ thắng gian tà!

NGUYỄN THIẾU NHẪN
San Jose 2003-2006

Chú thích:

1. Thụy Khuê - "Văn học nghệ thuật trước tình thế mới" tham luận đọc tại hội luận về Dân chủ đa nguyên do nhóm Thông Luận tổ chức tại Paris ngày 27-10-1990)

2. Văn Học, số 184 năm 2001, trang 29, 30.

3. Tóm lược vụ án WJC Boston, Nguyễn Hữu Luyện.

4. "Từ Chế Lan Viên đến Nam Chi...", Trần Ngọc Lũ, Tân Văn số Xuân Mậu Thìn.

Trở Về