T  H  Ờ I   -   S Ự

VẤN ĐỀ LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ (BÀi 2 )
Tôn Nữ Hoàng Hoa -   

 *
*  *


Kính thưa Quí Vị:

Chúng tôi là ai thì đó là quyền suy nghĩ của Quí Vị. Chúng tôi KHÔNG CẦN THIẾT PHẢI TRẢ LỜI

Chúng tôi không có bổn phận phải nói với quí vị tại sao tôi có bức thư đó? Mà Quí Vị phải thắc mắc là thủ bút của LM Lý có thật hay là giả? Qúi vị phải có bằng chứng thật hay giả mới TUNG HOẢ MÙ và CHỤP MŨ CHO NHỮNG AI KHÔNG ĐỒNG Ý VỚI VIỆC LÀM CUẢ LM LÝ

Như tôi đã viết ra trong bài VẤN ĐỀ LINH MỤC LÝ LÀ ĐỂ RỘNG ĐƯỜNG DƯ LUẬN TÔI XIN PHỔ BIẾN BỨC THƯ NÀY BẰNG THỦ BÚT CỦA LM LÝ

Vấn đề chưng bằng cớ ra để phủ nhận bức thư đó là giả mạo chỉ đơn giản như vậy mà quí vị làm không được . Thì thử hỏi quí vị TUNG HOẢ MÙ CÓ ĐẠT ĐƯỢC SỰ THUYẾT PHỤC HAY KHÔNG ? Chẳng qua là quí vị chỉ làm hoang mang dư luận của Quần Chúng thôi.

Vấn đề chính là LM Lý ĐÃ VIẾT THƯ RA ĐỂ CHỤP MŨ TÔI LÀ VIỆT TÂN LÀ VC thì LM Lý có thể gởi thư  ra chứng minh đây là thủ bút giả của LM . Chỉ có vậy thôi.

Còn như quí vị ở Seattle, Nam Cali mà chụp mũ tôi là VC thì xin chưng ra bằng cớ còn không chúng tôi sẽ nhờ pháp luật Hoa Kỳ can thiệp.

Luôn tiện hôm nay chúng tôi xin gởi đến quí vị TÂM THƯ CUẢ LM LÝ  Kính Đệ Trình Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Tâm thư này đã được đăng trên SAIGON NHO ra ngày 8/8/2003

để quí vị so sánh với Tâm Thư gửi Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 27/6/2003 có những điểm rất trùng hợp.

TNHH

*
*  *

Tâm thư do Linh mục Lý viết dài 5 trang, ký tên và đề ngày 17.4.2003 trên từng trang, nguyên văn như sau:

Vinh Danh Thiên Chúa Muôn Đời

Tâm Thư Kính Đệ Trình Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Trại giam Nam Hà, thứ 5 Tuần thánh 17.5.2003

Nguyện xin Thiên Chúa, Chúa Kitô Tử nạn - Phục Sinh, Đức Mẹ La Vang, Thánh Cả Giuse và các Thánh Việt Nam luôn ở cùng quý Đức Cha!

Con là Tađêô Nguyễn Văn Lý, trước ngày 17.5.2001 làm linh mục (LM) quản xứ An Truyền, Giáo Phận (GP) Huế, đang thụ án 15 năm tù tại trại Nam Hà, Hà Nam về tội chống lại lệnh quản chế và phá hoại đoàn kết (ĐK) Dân tộc (DT) theo Pháp lệnh hiện hành của Nhà nước Việt Nam (NNVN).

 
Con xin tạ lỗi có thể trước đây đã làm quý Đức Cha bận tâm mệt nhọc nhiều. Dù vô tài thiểu đức, nhưng cũng như quý Đức Cha và tất cả các LM bình thường khác, 28 năm qua, con luôn thao thức trăn trở: Làm sao để Giáo Hội Công Giáo VN (GHCGVN) được tự do (TD) phát triển tốt đẹp như Tuyên Ngôn TD Tôn Giáo (TDTG) của Công đồng Chung Vatican II năm 1965 mong ước? Nhất là làm sao để NNVN cho GHCGVN tự do tuyển chọn và đào tạo đủ LM phẩm chất cao cho giáo dân, chủng viện, báo chí, truyền thông, từ thiện, xã hội (XH), du học, khoa học, văn hóa, giáo dục, các vùng Kinh tế (KT) mới, đường Hồ Chí Minh - Trường Sơn, các giáo điểm mới, các vùng hẻo lánh cao sâu, truyền giáo ở các nước khác... trong đời sống tôn giáo (TG) thật hoàn toàn bình thường?

Sau gần 2 năm tĩnh tâm cầu nguyện suy nghĩ hoàn toàn một mình với Chúa hết đầu óc bé xíu của con, lật qua lật lại thật kỷ về quan hệ của Giáo Hội Công Giáo  hoàn cầu với chủ nghĩa xã hội  quốc tế , của Giáo Hội Công Giáo  VN với chủ nghĩa xã hội của VN, nay con xin phép quấy rầy quý Đức Cha có lẽ lần cuối cùng hết tâm huyết của con, trước khi con được cô tịch an nghĩ trong Chúa như một đan sĩ ẩn tu. Con không bị tra tấn, nhục hình, thẩm vấn, áp lực, yêu cầu, gợi ý gì hết. NN và con im lặng hoàn toàn cho đến khi con cảm thấy Chúa soi dẫn con viết tâm thư này. Không có gì để sợ hãi hay bị mê hoặc bởi vui thú thế tục, không bận tâm đến vinh quang ô nhục trần gian và các vấn đề về bản thân quá nhỏ của con, trước các vấn đề trọng đại: Chủ quyền độc lập của Tổ quốc (TQ), sự nghiệp đại ĐK (ĐĐK) toàn dân, danh dự của Nhà Nước Việt Nam , và quyền lợi thiết thực của Giáo Hội Công Giáo-VN, con cô động thành tâm thư ngắn gọn nhưng hy vọng đầy đủ này như Lời Chứng chung cục của con kính đệ trình quý Đức Cha.

I.- Thực chất của vấn đề Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hiện nay.

(1) 3 nguyên tắc không thể nhượng bộ của Nhà Nước Việt Nam  về các Tôn Giáo hiện nay:

a.- Chủ quyền Tổ Quốc  là trên hết, là nhân quyền (NQ) của cả nước, cao hơn nhân quyền  của bất cứ tổ chức nào. Tổ Quốc  càng an ninh, toàn dân càng Tự do . Nếu Nhà Nước  giới hạn Tự do  của toàn dân cách bất công là nhà nước có lỗi. Tôn Giáo giúp tổ quốc an ninh để thêm Tự do .

b.- 5 mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ (DC), văn minh là mẫu số chung cho toàn dân không phải sáo ngữ tuyên truyền, tuy không đề cập đến XHCN, nhưng ĐĐK toàn dân cụ thể đạt tới chính là xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mới của VN. Tôn Giáo  không thể thờ ơ chỉ muốn hoạt động "thuần túy Tôn Giáo " kéo dân ù lì theo, vì xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội mới này là đạo đức cao đẹp bao trùm toàn dân. Tôn Giáo  càng nhiệt tình xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội mới này, càng có thên Tự do cần thiết.

c.- Không thể đứng ngang hàng Nhà Nước   mà đòi Tự do  được, nếu cùng một nhịp bước với toàn dân thì có đủ Tự do .

(2) Tuy tuân thủ Hiến pháp, Pháp luật, hơn 99% cử tri Công Giáo đi bầu Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân, nhưng hai Thư Mục Vụ 1980, 2001, dù Nhà Nước    cho là tích cực nhất, vẫn không đề cập đến   Xã Hội Chủ Nghĩa của VN, có thể áp dụng cho mọi thời. Chọn đường lối mền dẽo linh hoạt khôn ngoan nhưng gượng ép ấy 28 năm qua, Hội đồng Giám mục VN (HĐGMVN) muốn ít nhất là duy trì được sự hiệp nhất vô giá vô cùng cần thiết, chỉ kiên nhẫn đợi chờ Nhà Nước  nới rộng hơn về Tôn Giáo , nhất là được dễ đào tạo Linh M mục hơn. Còn Nhà Nước Việt Nam  cũng đợi chờ Giáo Hội Công Giáo tích cực cụ thể hơn với Chủ Nghĩa Xã Hội  của VN để an tâm là Giáo Hội Công Giáo  không nguy hiểm cho chế độ. Tất cả các khó khăn đều do tình trạng dằng co rất bế tắc nầy.

(3) Hướng giải quyết tích cực ổn định hiện nay:

a.- Nhà Nước Việt Nam  không thể áp đặt bắt các Tôn Giáo ủng hộ Chủ Nghĩa Xã Hội   khi nó ảo tưởng, nhiều tiêu cực. Nhưng các Tôn Giáo cũng không thể phó phăng mặc cho Nhà Nước  chèo chống khi Chủ Nghĩa Xã Hội   của VN đã cãi cách, đã thành công cơ bản, đang hiện thực khởi sắc, nhất là đang trở thành CH (chủ nghĩa) Công bằng, Nhân ái, Hạnh phúc, Hiện thực, Toàn dân (CNCBNAHPHTTD) . NN rất mong các TG coi NN và CNCBNAHPHTTD ấy, tốt xấu đến đâu cũng là của mình, chung sức kiện toàn nó, nhất là trong giai đoạn hội nhập KT thị trường QT (KTTTQT) hiện nay. Nếu mô hình XHCN ấy của VN cuối cùng không thành công thì chính lương tri và trí tuệ của toàn dân cùng hiệp lực làm cho nó thành công chứ không ai khác, không thể kẻ xây người chống hoặc ảo tưởng mong chờ các xáo trộn rất nguy hại như kinh nghiệm đau lòng của bao nhiêu nước, vì TQ này thật sự là của toàn dân. Mỗi người VN phải là người không tìm gì riêng cho mình ngoài hạnh phúc của toàn dân, toàn nhân loại.

b.- Nghị quyết Hội nghị 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản VN (CSVN)khóa 9 13-21.01.2003 đã xác định: TG đang và sẽ tồn tại cùng DT trong quá trình xây dựng CNXH tại VN; đã có hướng giải quyết rất cơ bản tích cực cho 6 TG chính thức tại VN, nhất là về nhân sự, hoạt động và cơ sở. Đất đai, cơ sở của Giáo hội (GH) sẽ được giải quyết êm đẹp theo Pháp luật, trừ ra các cơ sở đất đai có văn bản trao biếu cho NN. Riêng CG, từ nay các GP có thể tuyển chọn chủng sinh từ các GP khác nhiều thành viên ưu tú có ơn gọi làm LM, tức là vấn đề nóng bỏng cốt lõi nhất của CG đã có hướng giải quyết dứt khoát êm đẹp. Các vấn đề nhỏ khác sẽ hài hòa với hướng đi lên tất yếu của toàn dân.

 
II.- Thực trạng hiện tại và tương lai của Đất Nước Việt Nam.

(1) Dù được thêm tự do hay gặp khó khăn, từ 2 ngàn năm nay, "GHCG không bảo trợ bất cứ hệ thống triết học nào của loài người." (Thư gửi Đionhêtô thế kỷ thứ I), do đó GHCGVN chắc chắn không bao giờ chịu thỏa hiệp với bất cứ một thể chế chính trị (TCCT) nào như là lý tưởng của mình cả, vì mọi triết học loài người và mọi TCCT đều bất toàn và vô thường, có khi còn xa lánh, lên án và nếu cần thì lật đổ. Nhưng đối với CNXH của VN, xuất hiện muộn nhất trong lịch sử trái đất nầy, thì sao? Nếu là tổng hợp bao tinh hoa của nhân loại, là CNCBNAHPHTTD, tương lai tốt xấu đến đâu đều do toàn dân cùng đồng tâm quyết định, thìGHCGVN có nên coi đó là sự nghiệp của chính mình không?

(2) Ngày 20.3.2003, NN Mỹ và Anh đánh chiếm Iraq giúp chúng ta hiểu: Cách đây hơn 70 năm, để thắng thực dân Pháp, trong thế lưởng cực, người CSVN đãkhông dựa vào Mỹ (nếu thế thì hôm nay quân đội Mỹ vẫn còn trú đóng trên đất VN như Nhật bản, Hàn quốc... vì họ đã thấy rõ và đúng lòng dạ các NN Mỹ hơn nhiều người VN khác, hoặc vì đã sẵn thân triều Nguyễn, đã sẵn thân Pháp, hoặc không thích CS, nên có thể mãi đến nay vẫn còn lúng túng chưa thấy thật rõ. Dù ôn hòa bất bạo động như Thánh Mahatma Gandhi thì Ấn Độ cũng chỉ giành được độc lập mà chưa có cách mạng XH nên thiếu nền tảng ổn định XH vững bền, rất dễ có xung đột chủng tộc và xung đột TG.

(3) Vượt qua các va vấp cực đoan của XHCN cổ điển mà thực tâm những người CS chân chính lúc đầu có thể chưa lường rõ hết được, và dù không hề muốn, nhưng vì nhiều lý do, chúng đã xẩy ra (và dù nhiều đến đâu thì số người VN ủng hộ hoặc tuân phục Đảng CSVN vẫn đông và mạnh hơn số người lo sợ, do dự, trốn chạy chống lại; các nước trên thế giới ủng hộ cách mạng VN cũng nhiều hơn các nước lãnh đạm hoặc chống lại; các tiêu cực và hạn chế một số TD, dù có thật, cũng trở nên quá nhỏ và dễ hiểu trước các việc làm cấp bách hơn nhiều là giàng độc lập cho TQ sao cho thắng lợi vững bền...), ngày nay VN đã đạt 4 thành tựu rất cơ bản cùng một lúc mà rất nhiều nước (Ấn Độ, Indonesia, Philippines, ...) chưa thể đạt được: độc lập thống nhất, công bằng XH cho 54 sắc tộc ít người cùng có cơ hội thăng tiến huynh đệ, không lệ thuộc nô dịch nước ngoài, an ninh ổn định thuộc loại vững nhất thế giới hiện nay, là 4 điều rất khó mà NNVN đã và sẽ còn làm rất giỏi, còn cải cách để hội nhập KTTTQT tức là muợn sức mạnh KTQT để xây dựng CNXH giúp KT phát triển và nới rộng các TD chính đáng cho toàn dân là 2 điều dễ hơn và đương nhiên sẽ đạt, chắc chắn ngày càng hiện thực, nhanh chậm là do toàn dân vững tin ĐK cụ thể quyết định. Ví dụ TD ngôn luận tuy phải dựa trên 3 nền tảng: đạo đức, vắn hóa, lý tưởng XHCN, nhưng hiện nay VN có gần 600 tờ báo phê phán đa dạng và ngày càng rộng rãi hơn.

 (4) Trong hơn 40 nước theo mô hình XHCN cổ điển của Lênin do một đảng CS lãnh đạo duy nhất từ một năm trở lên (hợp thành liên bang là 26 nước: Châu Âu 9, Á 8, Phi 7, Trung Mỹ 2) thì có 15 nước trên 28 năm (Âu 9, Á 5, Trung Mỹ 1), hiện nay còn 5 nước: VN, Trung Quốc (TRQ), Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào, Mông Cổ. Nhờ dày dạn kinh nghiệm Đông Tây, hiện nay TRQ và VN đang cải cách rất vững vàng, muốn cống hiến cho nhân loại một kinh nghiệm XHCN rất đặc sắc lần đầu tiên trên hành tinh (TRQ có 60 triệu đảng viên (ĐV), VN hơn 4 triệu ĐV, tăng #150 ngàn ĐV trè/năm, hơn 4 triệu đoàn viên, 7 triệu cán bộ viên chức ăn lương NN, 1 lực lượng Công an - bộ đội rất tinh nhuệ, nền nếp, kỷ luật nghiêm, nhiệt tình cao, sẵn sàng chịu hy sinh gian khổ cao độ giúp kiểm soát được hầu như toàn dân và các vùng xa hẻo lánh của TQ để thật an ninh, hàng chục triệu quần chúng đoàn thể, du kích, cựu chiến binh... dù không ăn lương NN vẫn rất trung thành... Do đó, trừ ra chính các ĐV hư hỏng hoặc bảo thủ làm thất bại, ngoài ra không có một thế lực nào đủ sức cạnh tranh được với mô hình XHCN kiểu mới này của VN và TRQ cả) là lấy KTTTQT (tức nếp sống toàn dân thông khoáng gần như trong CH tư bản (CNTB) mà xây dựng CNXH kiểu mới của mình (nghĩa là lấy lý tưởng XHCN mà ngăn chận các bất công và phóng túng nguy hại của CNTB). Đối với VN là tổng hợp 3 tinh hoa của Dân tộc và 2 hệ thống là: văn hóa truyền thống DT hòa quyện đạo đức XHCN (công bằng, trung thực, nhân ái, cần cù, sáng tạo, xã thân, anh hùng, khoan dung, chung thủy...) trong sức mạnh KT của CNTB. Mô hình đặc sắc này chắc chắn là thành công nếu toàn dân hiểu rõ, vững tin và ĐĐK cùng coi đây là sự nghiệp của mỗi người dân Việt. Trong mô hình XHCN mới kiểu VN này, chắc chắn TDTG có đủ và các NQ căn bản nhất được bảo đảm công bằng tốt hơn bất cứ mô hình XH nào khác, vì nó được nhào nặn nên cho hạnh phúc con người toàn diện, không phải của riêng Đảng. Các TG có quyền bổ sung thêm cho nó toàn diện hơn nữa.

  (5) TRQ đã đề ra mục tiêu có thể đạt được trong vài chục năm nữa là một xã XH Xiao-khang (tiểu khang) là một hình dung súc tích do Đức Khổng Tử đã đưa ra trong Kinh Thi mô tả một XH ấm no phú túc đạo đức hài hòa, tuy dân chưa đạt mức tự giác bác ái đại đồng, quân tử, thánh hiền, nhưng đã an vui đạo đức, nhân nghĩa cao thượng. VN cũng đang nhắm mục tiêu Xiao-khang rất hấp dẫn này. Nếu TK 21 nhân loại hướng về tâm linh hơn, thì nhiều người cũng cho rằng TK nước Anh phát triển kéo theo Âu Châu, TK 20 nước Mỹ giàu mạnh kéo theo các đồng minh thân cận, và TK 21 TRQ sẽ cường thịnh kéo theo các nước cùng hoàn cảnh mà gần nhất là VN. Một thực tế vừa tầm không viễn vong mơ hồ, miễn là toàn dân cùng chung lòng chung sức. 
(6) Để ngắn gọn con không so sánh ưu khuyến điểm của DC tập trung (DCTT) kiểu VN với DC nghị viện (DCNV) 3 quyền độc lập, chỉ vắn tắt rằng để DCTT thành công cần những điều kiện gì Đảng CSVN đã nắm rất rõ và dư biết rằng tất cả các thể chế độc đoán, dù ẩn núp biện minh bằng thủ đoạn, khôn khéo đến đâu, cũng sẽ bị toàn dân đào thải, vì thế Đảng đang nỗ lực hết sức để NNVN là của dân, do dân, vì dân thực sự, không phải là khẩu hiệu mị dân. Chính các TG có trách nhiệm làm cho NN ấy trở thành của mình, không chỉ đợi cho lịch sử tự diễn tiến, tuy trước mắt có nhiều điều chưa được vừa ý. Còn DCNV (Dân chủ nghị viện) chỉ thật sự ổn định, công bằng khi đại đa số dân nghèo lao động kiểm soát được Quốc Hội là điều rất khó, rất ít nước có, may ra trong TK 21 này một số nước mới hy vọng đạt được. Nếu chỉ đánh giá bản chất sâu xa một XH qua KT giàu có thì rất hời hợi. Việc dân Mỹ - Anh vì Quốc hội Mỹ - Anh không ngăn cấm được NN Mỹ - Anh đánh chiếm Iraq là một điển hình cụ thể. Do đó các TG tại VN cần giúp sức để VN ổn định và phát triển, không nên mơ hồ đợi chờ các xáo trộn rất nguy hại.

III.- Để Đất nước ổn định, có TDTG đầy đủ hơn, GHCGVN nên làm gì cụ thể?

Ước gì GH hiểu rằng người CSVN, tuy chưa tin Chúa Kitô, nhưng qua hành động, đang rao giảng một Chúa Kitô Nghèo - Công bằng - Nhân ái - Hòa bình, mà hổ trợ NNVN hết lòng, thì GH có thêm TD thuận lợi mà minh chứng một Chúa Kitô Lịch sử chết - Sống lại thật sự đang sống giữa nhân loại hôm nay. Và nếu quý Đức Cha thấy các phân tích khái quát của con tuy quá ngắn gọn nhưng quân bình, chín chắn, khách quan, xác thực, cụ thể đề cao lý tưởng XHCN mới đặc sắc của VN, đại ý như sau, chắc chắn vấn đề TDTG được thông thoáng mọi bề:

a.- Kêu gọi GHCGVN an tâm tích cực nhiệt tình sống Phúc âm giữa lòng DT hòa quyện với truyền thống văn hóa DT, lý tưởng cao đẹp XHCN mới mẻ đặc sắc trong hội nhập KTTTQT là một tổng hợp hòa hài Công bằng Nhân ái Hạnh phúc Hiện thực Toàn dân, do toàn dân cùng quyết định tương lai của nó, trong đó có GHCGVN.

b.- Các giáo hữu miền Nam nên rũ bỏ mặc cảm đau buồn nặng nề liên quan đến chế độ SàiGòn cũ, an tâm hưởng ứng chủ trương của NNVN khép lại quá khứ, gỡ bỏ mọi phân biệt, định kiến, tin tưởng nhau cùng hướng về tương lai.

c.- Kêu gọi Việt kiều QT tích cực chung sức kiện toàn TQVN, giúp VN hội nhập KTTTQT thắng lợi các nhanh càng tốt.

d.- Kêu gọi các nước, các tổ chức QT, Tòa Thánh Vatican tin yêu hổ trợ VN về mọi mặt, nhất là về từ thiện, y tế, giáo dục, văn hóa, đặc biệt hổ trợ VN hội nhập KTTTQT với nhiều ưu đãi.

IV.- Các hiệu quả tích cực trực tiếp và gián tiếp:

1.- Giúp thống nhất, chấm dứt bao dằng co 6, 7 đường lối khác nhau trong GHCGVN 28 năm qua.

2.- Giúp Tòa Thánh Vatican sớm lập quan hệ ngoại giao với NNVN khi NNVN thấy rõ hơn rằng GHCG hoàn cầu luôn ủng hộ các NN thân tả ôn hòa, thân hữu ôn hòa và luôn lên án các NN cực tả, cực hữu.

3.- Góp phần hướng cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa NNVN với một số Việt kiều lưu vong vào một mục đích chung tích cực hơn cho TQ; khuyến khích các Việt kiều ấy khôn ngoan, nhận ra rằng thay vì phê phán xô bồ chỉ làm NNVN thêm bận tâm cảnh giác, thì nên biên soạn các công trình khoa học công phu chuẩn xác, giúp VN thanh bình, đạo đức, giàu mạnh như các nhóm đã làm; giúp toàn dân VN trong và ngoài nước nhận ra CNXH mới của VN là con đường DC hóa, TD hóa toàn XH hòa bình, ổn định, hiệu quả nhanh nhất; QT sẽ an tâm giúp đỡ và đầu tư vào VN nhiều hơn...

4.- Góp phần để Quốc hội Mỹ hủy bỏ Dự luật HR2833 Nhân quyền cho VN và Dự luật TDTG tại VN là các Dự luật không một Quốc hội nào lại ngang nhiên ra cho dân mình về nước khác kiểu đó, ẩn chứa động cơ không tốt, mà lẽ ra nếu có điều gì 2 NN cùng quan tâm thì đối thoại ngoại giao là hữu hiệu hơn nhiều.

 
V.- Dù chưa có Thư Mục Vụ mới nói trên, kính xin quý Đức Cha cứ an tâm đệ đạt các nguyện vọng cần thiết chính đáng vì hiện nay NNVN đang đặc biệt rất quan tâm đến các TG, như mỗi GP cần có một Tiền (Tiểu) chủng viện quy mô để nâng chất lượng đào tạo LM, các LM cần dễ dàng định cư với đồng bào nghèo hẻo lánh để mở các giáo điểm mới, GH cần thêm tạp chí... ngay cả cần xin thêm cơ sở...
 
Trọng kính quý Đức Cha,

Nếu tâm thư nằm trong A4 nầy, các phân đoạn giữa trang đều cách nhau 1 giòng trắng (trừ các mục a, b, c, d, 2, 3, 4 hay 5) đến được quý Đức Cha thì kính xin quý Đức Cha có thể coi đó là một dấu chỉ Thiên Chúa chúc phúc cho công việc vô cùng khó khăn, tuy nhỏ bé, của con, để quý Đức Cha an tâm lựa chọn. Cuối mỗi trang con đều ký tên. Các trang, đoạn rời lẻ vô giá trị. Con luôn cầu nguyện đêm ngày cho Nhân loại, Tổ quốc, các Tôn giáo và quý Đức Cha. Kính xin quý Đức Cha tha lỗi và thương cầu nguyện cho đứa con quá bé nhỏ và luôn hiếu thảo trong đời ẩn tu đặc biệt nầy.

Rất trân trọng - Kính bái

(Ký tên)

17.4.2003

Phóng ảnh thủ bút Thư của LM Nguyễn văn Lý  gởi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam



Tù nhân Tadêô Nguyễn Văn Lý (linh mục Giáo phận Huế)

TÂM THƯ KÍNH GỞI

LƯỠNG VIỆN HIỆP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Ngày 27.6.2003

Kính thưa hai Ông Chủ Tịch Thượng Viện, Hạ viện, tất cả quý Nghị sĩ và Dân Biểu Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ,

Nguyện xin Thiên Chúa bảo vệ toàn dân nước Mỹ luôn bình an, hạnh phúc.

Tôi là Tađêô Nguyễn văn Lý, trước ngày bị băt17.5.2001, làm Linh Mục Quản Xứ An Truyền, giáo phận Huế, Giáo Hội Công giáo Việt Nam, đã được chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ mời phát biểu về Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam hai lần ngày 13.2.2001 và 16.5.2001 tại Washington D.C.. Tôi bị kết án 15 năm tù về tội "Chống lại lệnh quản chế và phá hoại đoàn kết dân tộc" đang thụ án tại một trại giam, theo pháp luật hiện hành của Nhà Nước Việt Nam.

Qua báo chí, tôi được biết, Hai Viện Quốc Hội Hoa Kỳ đang chuẩn bị thông qua Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam, nên tôi xin gởi đến tất cả qúy vị tâm thư thiết tha này

Tôi xin chân thành cảm ơn qúi vị nào đã thiện ý quan tâm đến các tôn giáo tại Việt nam và cá nhân tôi nhưng vì lợi ích lớn lao lâu dài của 2 nước và nhất là chủ quyền độc lập của đất nước tôi, tôi tự thấy có trách nhiệm viết tâm thư này, không do ai áp lực yêu cầu, để đề nghị Hai viện Quốc Hội Hoa Kỳ huỷ bỏ Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam và Dự Luật Tự Do Tôn Giáo Việt Nam, vì các lý do sau đây:

1. Quốc Hội nước này không nên và không có quyền ra Dự Luiật về một nước khác, vì xâm phạm quyền bình đẳng của nước khác, chứng tỏ có người trong Quốc Hội Hoa Kỳ có thể muốn lợi dụng vấn đề nhân quyền với ẩn ý không tốt. Có lẽ hiện nay chỉ có Quốc Hội Hoa Kỳ dám ngang nhiên ra các đạo luật về các nước khác mà thôi.. Nếu có vấn đề gì hai nhà nước cùng quan tâm thì các đường lối đối thoại ngoại giao văn minh tốt hơn và hiệu quả hơn rất nhiều

 2. Việt Nam đã cùng một lúc đạt  4 thành tựu rất cơ bản mà nhiều nước chưa thể đạt được: Độc lập, thống nhất, công bằng xã hội đồng đều cho 54 dân tộc ít người, cùng thăng tiến huynh đệ, không nô dịch lệ thuộc nước ngoài, an ninh ổn định thuộc loại tốt nhất thế giới hiện nay.

Nguyên 4 điều này đủ xác định uy tín của Việt Nam vững vàng giữa Quốc tế.. 4 điều rất khó này Việt Nam đã làm rất giỏi. Còn việc phát triễn kinh tế và nới rộng tự do chính đáng cho toàn dân phù hợp với điều kiện an ninh của đất nước là 2 điều dễ hơn, đương nhiên là phải có và Nhà Nước Việt Nam đang nổ lực cải cách nhiều mặt để đạt được 2 điều nầy ngày càng hiệu quả thiết thực hơn từng ngày, từng tháng, trong tất cả mọi lãnh vực, đặc biệt về Nhân Quyền và Tôn Giáo

                               ______________________________ ____

                              TTKGLVQHHCQHK 27.6.2003 P 2/2

3. Nếu có 3 nền tảng đạo đức, văn hoá, lý tưởng xã hội chủ nghĩa riêng của Việt Nam, thì tại Việt Nam hiện nay có đủ tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Hiện nay gồm 600 tờ báo các loại trong nước Việt nam đều tuân thủ nền tảng này, đang phê phán, góp ý phong phú đa dạng. Trong kinh tế thị trường Quốc tế và Việt Nam đang hội nhập, đương nhiên hai quyền tự do này ngày càng đầy đủ hiện thực hơn . Nhưng vì cải tiến cho an ninh đất nước và đạo đức của toàn dân, như nhiều nước bình thường khác, Việt Nam cần có các giới hạn về một số tự do phóng túng nguy hại gây nhiều xáo trộn cho đất nước.

4. Nhà nước Việt Nam không đàn áp tôn giáo, chỉ có một số giới hạn theo tiêu chỉ của Việt Nam làm một số người không vừa ý, nhưng Nghị Quyết 7 Ban Chấp Hành Trung Ương khoá 9 của Đảng Cộng Sản Việt Nam tháng 01-2003 đã xác định. Tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội tại Việt Nam, đã có hướng giải quyết thoả đáng tự do tôn giáo cho 6 tôn giáo chính thức tại Việt Nam. Theo tôi nghĩ 6 tôn giáo đều vừa lòng đều tích cực cơ bản này, nếu còn vài điều nhỏ nào chưa vừa ý thì cũng sẽ dễ dàng đạt được đồng thuận, trong hài hoà, hợp tình, hợp lý chung của toàn dân.

Cụ thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ nay được tuyển chọn và đào tạo Linh Mục rộng rãi hơn tức là vấn đề then chốt nóng bỏng nhất này đã có hướng giải quyết êm đẹp dứt khoát.

5. Kính mời quý vị nếu có điều kiện đến thăm Việt Nam, tận mắt chứng kiến đất nước Việt Nam đang đổi mới tốt đẹp thế nào, trực tiếp gặp bất cứ người dân nào quý vị muốn, chắc chắn càng minh chứng các điều tôi viết trên đây là xác thực.

Tôi luôn cầu nguyện đêm ngày nhiều lần cho Tổng Thống, Quôc Hội và toàn dân Hoa Kỳ ngày càng an vui, đạo đức, hạnh phúc giữa gia đình nhân loại huynh đệ. Kính xin quý vị cũng luôn cầu nguyện cho Tổ Quốc Việt Nam và cho tôi

Xin chân thành cảm ơn quý vị đã vui lòng đọc và tôi hy vọng quý vị tán thành ý kiến chính đáng của tôi. Trân trọng kính chào quý vị

Rất trân trọng kính mến

Ký tên

 

(Tù nhân Tađêô Nguyễn Văn Lý)

Linh Mục Giáo phận Huế

__._,_.___

*
*   *

PHÓNG ẢNH THỦ BÚT  THƯ CỦA  LM NGUYỄN VĂN LÝ


*  *  *

ĐỌC ►Vấn đề Linh mục Nguyễn văn Lý - Bài 1 -

Trở Về