T  H  Ờ I   -   S Ự

“CÁI CHẾT” CỦA NHỮNG ÔNG TƯỚNG
- LÃO MÓC-


*

*  *

Dẫn nhập: Hai chữ “cái chết” trong tựa bài viết này được để trong ngoặc kép (“”). Cựu Chuẩn Tướng “nằm vùng” Nguyễn Hữu Hạnh, theo tôi, là vị Tướng “đã chết nhiều lần” do những nhà báo VC… giết chết bằng những bài báo.

Mới đây, có vị gửi email cho tôi bài viết “Vị Tướng già trong nhà dưỡng lão” của nhà văn Huy Phương và hỏi tôi: “Ông HP này có ý gì khi viết bài viết này?” Xin có vị nào có cao kiến xin trả lời dùm tôi câu hỏi này. Cám ơn trước.

Trong bài viết này, tôi xin gửi đến nhà văn Huy Phương câu hỏi: Vì sao cách đây mấy năm, khi cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lên đài SBTN, khi Việt Dzũng (đã chết) phỏng vấn thì Đại Tướng TTK đã tuyên bố: "VC có công thống nhất đất nước, công hay tội hãy để lịch sử phán xét” và kêu gọi: "Giới trẻ ở hải ngoại hãy góp ý với đảng CSVN”, không thấy nhà văn HP lên tiếng, lên tăm gì về những lời tuyên bố của Đại Tướng Khiêm dù ông Huy Phương là cộng tác viên của đài SBTN và nhật báo Người Việt. Nay, ông lại cất công đi Dallas, Texas để phỏng vấn Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai và viết bài “Vị Tướng già trong nhà dưỡng lão”? (Xin xem Phụ đính 2 ở cuối bài viết này).

*    

“Vào thập niên 60, Bảy Lương được Ban Binh vận Trung ương Cục giao nhiệm vụ làm đội trưởng đội vận động sĩ quan chế độ Sàigòn. Với hai bộ quần áo và một căn cước giả, Bảy Lương nhảy vào Sàigòn hoạt động đơn tuyến, không nhà cửa, không thân thích.

Người được chọn lúc đó là Đại tá Nguyễn Hữu Hạnh (NHH), Tư lệnh phó Vùng IV chiến thuật, một người rất có thế lực trong quân đội. Mục tiêu có vẻ rất khó vận động vì Đại tá Hạnh là một sĩ quan chuyên nghiệp, có bề dày kinh nghiệm chống Cộng sản và được đào tạo về tình báo ở Mỹ. Gia đình ông đông con, cuộc sống đầy đủ, không dễ gì chấp nhận sự thay đổi đầy rủi ro.

Bảy Lương đặc biệt chú ý tới chi tiết quê quán của Đại tá Hạnh: xã Phú Phong, huyện Châu thành, tỉnh Mỹ Tho, một vùng giải phóng lõm, xôi đậu.Tìm đến xã Kế Sơn kế cận, Bảy Lương tiếp xúc được với một số bà con của Đại tá Hạnh để tìm hiểu chi tiết về con người này.

Dù là sĩ quan cao cấp nhưng khi gặp bà con, cô bác ở vùng giải phóng ra Sàigòn, ông Hạnh vẫn ân cần, niềm nở. Khi cụ thân sinh mất, Đại tá Hạnh xin phép xã ủy Phú Phong cho ông đem thi hài cha về quê an tang. Xả ủy Phú Phong chấp nhận. Đại tá Hạnh tiếp tục xin xã ủy cho phép ông, nhân ngày mở cửa mả cha, được dùng máy bay trinh sát lượn ba vòng quanh mộ. Xã ủy trả lời: đồng ý! Và bảo đảm an toàn với điều kiện Đại tá Hạnh phải bay độc lập bằng máy bay trinh sát và không có máy bay hộ tống. Đại tá Hạnh thực hiện đúng và bay về Sàigòn an toàn. Những tin tức tình báo khác cho thấy Đại tá Hạnh khi xử lý công việc thường rất tự chủ và rất ghét sự can thiệp của người Mỹ. Nhắc lại chuyện cũ, ông Bảy Lương cho biết:

-Con người anh Hạnh không thể thuyết phục bằng những khái niệm lớn như quốc tế vô sản, cách mạng, đấu tranh giai cấp… mà phải đi bằng con đường tình cảm gia đình, làng xóm và có thời gian.

Bảy Lương chọn ông Tám “vô tư”, một thầy thuốc có họ hàng với Đại tá Hạnh, rất được Hạnh kính phục vì thuở nhỏ ông Tám “vô tư” đã từng dạy i tờ cho Hạnh…

…  Quyết định của Bảy Lương không sai. Chuẩn Tướng NHH đã nhận lời hợp tác với cách mạng…

… Những ngày cuối tháng 4 -1975, quân Giải phóng áp càng sát Sàigòn. Lúc đó Tướng NHH đóng vai trò xử lý Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH vì Tướng Vĩnh Lộc bận việc và là trợ lý cho Tổng thống Dương Văn Minh (DVM). Chính Tướng Hạnh đã phát những quân lệnh rất có lợi cho quân giải phóng…

Tướng Hạnh khéo léo từ chối đề nghị phá cầu Sàigòn để tử thủ của một đơn vị:

-Quân ta còn cơ động, chưa được phép phá cầu, khi nào cần tôi sẽ huy động Không quân bỏ bom. Nếu phá cầu chúng ta sẽ gặp khó khăn.

Điều quan trọng hơn là bản báo cáo tình hình  chiến sự của NHH đã khiến Tổng thống DVM đi đến quyết định đầu hàng. Tướng Hạnh cũng chính là người đã ra lệnh trên đài phát thanh cho quân đội Sàigòn buông vũ khí vào lúc 9 giờ ngày 30 ngày 30-4-1975…

… Đã hơn 20 năm trôi qua, nhắc lại chuyện cũ ông Hạnh nói:

-Tôi vốn là người đứng phía bên kia chiến tuyến với Cộng sản. Tôi trở về với Cách mạng là cả một quá khứ đấu tranh tư tưởng và tình cảm, tôi cũng cảm nhận được người phía sau lưng ông Tám “vô tư” phải là một nhà tình báo lớn, mưu trí, khéo léo, nhạy bén. Sau giải phóng tôi mới được biết và tiếp xúc với ông Bảy Lương…”

*

Trên đây là một phần  bài viết của Hoàng Linh, đăng trên báo Tuổi trẻ Xuân, xuất bản trong nước.

Thổi phồng và tự đề cao một cách quá đáng là một thủ thuật của các cây viết lãnh lương của nhà nước xã nghĩa. Nhưng dù sao, qua bài viết này chúng ta cũng thu lượm được một vài điều. Giữa bài viết có hình ông Hạnh… đang làm vườn với câu chú thích: “Tướng Hạnh giờ đây đã có thể vui thú điền viên.”

Quả bồ hòn nó đắng lắm. Bị bắt buộc phải ngậm một quả bồ hòn, đã là một cái khổ. Khổ hơn nữa là khi người ta nhét vào mồm mình cái quả bồ hòn áy, tay nó lăm lăm một thanh củi tạ, nó hỏi: “Sao, ngọt không?” mà phải trả lời theo ý nó: “Dạ, ngọt lắm!” thì ấm ức là dường nào. Đó là tình cảnh của ông Chuẩn Tướng NHH vào năm 1995.

Vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, ông Hạnh mới lẽo đẽo chạy theo con voi Cộng sản Bắc Việt để mong kiếm ít bả mía mà hít cho quãng đời còn lại. Con voi này nó có nhả ra một cái bả mía. Cái bả mía này là chức vụ “Thành viên trong phái đoàn miền Nam” trong hội nghị hiệp tương thống nhất Nam Bắc.

Ngày 21 tháng 11 năm 1975, báo Nhân Dân loan tin “Hội nghị Hiệp thương Thống nhất Nam Bắc” đã “thành công tốt đẹp”. Cái tên nước “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” ra đời. Con voi thôi không nhả thêm bả mía ra nữa. Và thuận chân, thuận vòi, nó gạt phắt cái đám vẫn lúp xúp chạy theo đuôi nó từ trước đến giờ.

Đâu phải đến năm 1995 ông Hạnh mới được “vui thú điền viên” như tay nhà báo xỏ lá Hoàng Linh đã viết. Ông Hạnh đã được “vui thú điền viên” từ lâu rồi, ngay sau khi con voi cộng sản nuốt được miền Nam kia. Mấy chữ “vui thú điền viên” là mấy chữ văn vẽ để chỉ tình trạng của cái vỏ chanh đã bị vắt hết nước. Và nếu nói một cách bình dân hơn, dễ hiểu hơn, hơi tục một chút nhưng rất chính xác thì đó là tình trạng của những người bị người ta “đá đít” sau khi xong việc.

Miếng vỏ chanh vắt hết nước bỏ mốc meo, lâu lâu lại bị người ta lôi ra để tuyên truyền cho chế độ. Như cứ lâu lâu vào những ngày 30 tháng Tư, người ta lại thấy “cái võ chanh mốc” NHH lại được “lôi” lên đài Việt ngữ của Bọn Bọ Chét kết tội là “Nguyễn Văn Thiệu đánh nhau với Trung Cộng làm mất Hoàng Sa, Trường Sa”; trong khi chính trong thâm tâm ông ta biết là “thằng Đồng vẩu” đã theo lệnh của “Bác Hồ của ông ta” dâng Trường Sa, Hoàng Sa cho Trung Cộng qua công hàm 14-9 năm 1958.

Mới đây, chúng nó lại lôi “cái vỏ chanh mốc” NHH ra mà bêu rếu:

40 năm sau ngày giải phóng cựu Chuẩn tướng NHH - người đã tác động để Tổng Thống DVM phát đi lời kêu gọi binh sĩ VNCH hạ vũ khí tránh gây thêm đổ máu – đang có cuộc sống an nhàn, thảnh thơ tuổi xế chiều ở một ngôi nhà nhỏ tại Tiền Giang” (xin xem ở phần phụ đính).

Ai sao không biết chứ Lão Móc đọc xong bài báo: chua xót lắm! 

Một ông Tướng của chế độ miền Nam, nằm vùng hoạt động cho VC. Hết xôi, rồi việc! Bị nó đá đít. Ngay cả cái bả mía cũng không được hít mà chỉ được “hưởng” tí phân voi là “có chức” “nhân sĩ thành viên của Mặt trận Tổ Quốc (sic!)”.

Càng chua xót hơn, khi đọc xong bài báo kể lại “chuyện lương duyên” của “ông Tướng cải lương” Nguyễn Hữu Hạnh với “bà Trần Thị Hiệp” bán vé số”.  

Không biết độc giả đọc bài báo đính kèm sẽ nghĩ như thế nào, chứ tôi thấy đây là một đòn vô cùng thâm độc là “giết ông Tướng nằm vùng NHH” một lần nữa!

Như đã trình bày ở phần trên, tay nhà báo xỏ lá Hoàng Linh nó đã vẽ ra cái cảnh “ngậm bồ hòn làm ngọt” của “ông Tướng nằm vùng” NHH khi cho in cái hình và viết mấy chữ “vui thú điền viên”!

Bài báo đính kèm vì lấy từ internet (không thấy tên tác giả)  được viết vào 20 năm sau, kể về chuyện tình của “một anh già không nên nết” là ông Tướng Hạnh 90 tuổi với người phụ nữ bán vé số tên Trần Thị Hiệp, 60 tuổi mà ông Hạnh đặt tên là “người phụ nữ khổ nhất thế gian” ở ấp Me, thị trấn Tam Hiệp!

Đây đúng là chuyện tình cải lương mà một bản nhạc “sến” đã diễn tả:

“Năm anh ba mươi, em mới sinh ra đời
Ngày anh chín mươi, em cũng vừa sáu mươi…”

 
Chua xót cách gì khi bài báo viết:
 
“Người cầm súng đối đầu với nhau còn chưa giết nhau, còn ngồi được với nhau thì mình sống gần người chết cũng đâu có hề gì. Tôi cảm thấy vui…”.

*

“Nhất Tướng công thành, vạn cốt khô!”
 
Có lẽ trên đời này ông Tướng nằm vùng NHH là một kẻ “độc nhất, vô nhị” dám tuyên bố “cầm súng đối đầu với nhau còn chưa giết nhau”!
 
Một kẻ làm Tướng như ông há chẳng biết câu “nhất Tướng công thành…”?
 
Không biết thằng nhà báo nó có thêm thắt gì không chứ nếu mà ông – chính ông tên Tướng nằm vùng cho VC Nguyễn Hữu Hạnh mà tuyên bố như thế, thì đúng ÔNG LÀ MỘT THẰNG TƯỚNG KHỐN NẠN nhất của QLVNCH!
 
Phải mượn tiền của VC để cua gái nhỏ tuổi hơn cả con mình;
 
Phải mượn tiền của VC để cất nhà ở nghĩa địa để cùng nhau “nhảy sol, đố mì” ca bài: “Ngày anh 90, em cũng vừa 60…” “để được hạnh phúc nhỏ nhoi” mà VC đã ban phát!
 
Vậy mà vẫn nhắm mắt, nhắm mũi để hưởng cuộc sống an nhàn, thảnh thơi ở tuối xế chiều!

Thiệt đúng là “bótoànthân.com”! 

*

“Old soldier never; they just fade away!”.
 
Câu nói của danh tuớng Hoa Kỳ Mac Arthur mà đem áp dụng vào một số Tướng lãnh của QLVNCH – như ông NHH– hoàn toàn sai bét!
 
Nếu không phải là đòn độc của VC thì đúng là tên Tướng nằm vùng Nguyễn Hữu Hạnh đã tự nguyện làm người chết hai lần:

-Lần thứ nhất vào năm 1995;
-Lần thứ hai vào năm 2015
qua bài báo đính kèm.

 

LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com

 

PHỤ ĐÍNH 1

  • CUỘC SỐNG CỦA CỰU CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN HỮU HẠNH TẠI VN

 40 năm sau ngày giải phóng, cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh – người đã tác động để Tổng thống Dương Văn Minh phát đi lời kêu gọi các binh sĩ Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí, tránh gây thêm đổ máu - đang có cuộc sống an nhàn, thảnh thơi tuổi xế chiều ở một ngôi nhà nhỏ tại Tiền Giang...
 

SQ 46/103.072 Sanh ngày 10-7-1926 tại Xã Phú Phong, Quận Châu Thành Mỹ Tho
Ở tuổi 91, ông Nguyễn Hữu Hạnh vẫn là Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mỗi tháng, ông lại thuê xe đi từ ấp Me, thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đi TP.HCM dự họp và lãnh lương để sinh sống. Trí nhớ không còn minh mẫn, đôi lúc phải “nghiệm” ra một lúc mới nhớ được sự kiện nhưng ông vẫn còn nguyên bầu nhiệt huyết với quá trình hòa giải, hòa hợp dân tộc. “Người Việt Nam mình không bao giờ chia rẽ và không thể chia rẽ” – ông Hạnh thỉnh thoảng nhắc lại câu này trong cuộc trò chuyện với chúng tôi.

Vị tướng... không bắn súng

Tiếp chúng tôi trong căn nhà nhỏ rộng chừng 30m2 tại ấp Me, thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, gần với nơi chôn nhau cắt rốn ở xã Phú Phong, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (cũ), “tướng” Hạnh đã chia sẻ về những điều đã thôi thúc ông chọn cho mình một tâm thế hòa hợp xuyên suốt trong những ngày tháng đầy biến động của thời cuộc.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh (trái) tại hội nghị MTTQ tại TP.HCM năm 1976. Tư liệu

  
Ông Hạnh kể, hồi nhỏ ông học giỏi, nhất là môn toán và tiếng Pháp nên năm 1946 cũng đi “đăng lính” ở Sài Gòn, coi như một “nghề” kiếm sống chứ không có ý định thăng tiến trong con đường binh nghiệp.
“Tôi ở cùng đại đội với ông Dương Văn Minh. Lúc đó ông Minh đã là thiếu úy chỉ huy còn tôi là lính mới tò te. Ông Minh dạy tôi bắn súng, nhưng tôi chỉ bắn tập chứ ra trận chưa bắn viên nào. Trong quân đội, tôi chủ yếu làm... kế toán trưởng kiêm luôn thông ngôn. Thành ra, có người nói tôi làm tướng mà không biết bắn súng là vì vậy” – ông Hạnh kể.

Là “học trò ruột” của Dương Văn Minh, ông Hạnh và ông Minh đã có những buổi nói chuyện rất lâu về cuộc chiến và nhận ra rằng cả hai ông cùng rất nhiều người khác chỉ mơ một ngày thống nhất, không mặc quân phục, không phải đeo súng. Tài liệu ghi lại, ông Hạnh đánh trận không bao giờ rút súng bắn vào đồng bào, còn ông Minh thì từ chối ném bom miền Bắc, từ chối phá đê sông Hồng. “Miền Bắc lúc đó, hay là người miền Nam, chúng tôi cũng là người Việt Nam. Chúng tôi phải làm thế nào cho hợp với tư tưởng của người Việt Nam”- ông Nguyễn Hữu Hạnh lý giải.

Đường binh nghiệp hanh thông như diều gặp gió nhưng ông Hạnh vẫn là “viên tướng không bắn súng”. Năm 1970, thông qua người bác họ là Nguyễn Tấn Thành, ông Nguyễn Hữu Hạnh trở thành cơ sở của Ban binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Trong cùng năm, ông được thăng làm chuẩn tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Vào ngày 29.4.1975, ông được ông Dương Văn Minh phân công giữ chức phụ tá Tổng Tham mưu trưởng cho Trung tướng Vĩnh Lộc, người đã đào nhiệm sau đó. Với cương vị này, ông cùng với ông Dương Văn Minh đã phát đi lời kêu gọi các binh sĩ miền Nam buông súng vào sáng ngày 30.4.1975. Cũng chính ông cùng với Tướng Nguyễn Hữu Có đã có mặt cùng ông Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập trong giờ phút cuối cùng của Việt Nam cộng hòa.
Tháng 6.1975, ông được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Thành Đồng. Sau năm 1975, ông tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách nhân sĩ yêu nước cho đến nay.

Hạnh phúc cuối đời

Ông Hạnh kể, ông có đến 11 người con, một người hiện đang định cư ở Đức, còn lại đều có nhà riêng và sinh sống ổn định tại TP.HCM. Cách đây gần chục năm, vợ ông mất do già yếu, ông sống cùng một người con ở huyện Củ Chi, ngoại thành TP.HCM. “Vợ mất tôi buồn quá, các con cháu đều đi làm nên tôi hay bắt xe đò về quê cũ ở Tiền Giang thăm họ hàng, thăm lại những người ngày xưa “khác chiến tuyến” với mình. Ông trời sắp đặt, tôi gặp một người phụ nữ “khổ nhất thế gian” ở cái ấp Me, thị trấn Tân Hiệp và không ngờ gắn bó với nhau lúc xế chiều” – ông Hạnh kể về mối nhân duyên ở cái tuổi gần 90 mà ông mới gặp là bà Trần Thị Hiệp, năm nay 60 tuổi.


Ở ấp Me, mối lương duyên của ông Hạnh và bà Hiệp là một câu chuyện đẹp, nhiều người biết. Nhưng, ít người ở đây biết rằng “ông già hiền khô” ở trong căn nhà nhỏ xíu, xung quanh toàn mồ mả trước đây từng là một vị tướng, quyền uy một vùng. Nhiều người dân ấp Me kể, cách đây 5 năm, họ thấy có một ông già da trắng, dáng vẻ khoan thai hay tới chơi dài ngày ở nhà ông Bảy Rết. Hàng ngày, mấy người bán vé số ế đi ngang, ông già hay mua giúp. Trong số những người này, có bà Hiệp hoàn cảnh là đáng thương nhất: Chồng bà mất năm 1999, để lại bà một nách 5 đứa con nhỏ.

Không đất đai, hàng ngày bà Hiệp đi bán vé số nuôi con. Năm 2010, thấy đứa con út của bà Hiệp mới 12 tuổi đi ngang nhà ông Bảy Rết, ông Hạnh kêu lại, hỏi đi mua gì. Cháu bé nói đi mua gạo, ông cầm lên thấy nhẹ tênh, đứa nhỏ mới nói mẹ con không có tiền, mỗi lần đi mua chỉ mua được 1kg, mua là nấu cơm ăn luôn. Ông Hạnh quay vào nhà, rồi nhờ ông Bảy Rết đi mua 20kg gạo, gửi tặng cho gia đình bà Hiệp.
Rồi ông Hạnh cũng về lại TP.HCM. Ít tuần sau, ông lại quay về nhà ông Bảy Rết. Và lần này, vị nhân sĩ 87 tuổi quyết định ở chơi nhà ông bạn già suốt 3 tháng. “Tôi lớn tuổi lắm rồi. Thiệt tình mà nói, ở cái tuổi này không ai ham hố gì nữa đâu. Mà có ham hố, thì cũng thiếu gì cách chứ ai lại đem lòng cảm mến một người đàn bà khổ sở như thế. Tôi cứ thấy bà Hiệp tảo tần lại thấy thương, rồi đâm ra nhớ vợ, muốn có người thủ thỉ tuổi già” – ông Hạnh cười móm mém kể.

Ban đầu, bà Hiệp cũng nhất quyết không chịu “ông già” vì “tôi cũng già khú đế rồi. Ở với nhau chắc chỉ đấm lưng cho nhau cho đỡ đau nhức xương cốt chứ có làm ăn gì nữa ở cái tuổi này. Rồi chênh lệch tuổi tác nữa, nhìn thì tưởng ổng trẻ ai ngờ con lớn của ổng còn lớn hơn tôi nên tôi không chịu” – bà Hiệp kể.

Đến lúc bà Hiệp đồng ý làm bạn với ông Hạnh cho vui tuổi già thì đến lượt các con của ông Hạnh không đồng ý. Ông Hạnh sau một thời gian ở nhà ông Bảy Rết cũng phải về TP.HCM. Khoảng vài ngày sau, một người cháu nội của ông Hạnh tìm về tận ấp Me, tìm gặp bà Hiệp, đưa bà 5 triệu đồng và cái điện thoại với lời dặn: “Ông nội con đưa cho cô, nói cô chi tiêu và dùng điện thoại gọi cho ông”. Ít lâu sau, những người con của ông Hạnh cũng dần đồng ý để ông về ấp Me sinh sống.

“Tôi đâu có tài sản gì ngoài lương. Tiền bạc của con cái tôi không muốn dính vì làm vậy là làm khó cho bả (bà Hiệp). Thành ra, tôi gặp cô Dung bên mặt trận (bà Võ Thị Dung – Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM) mượn cô 30 triệu đồng về ấp Me cất cái nhà sống với bà Hiệp. Tôi nói để mỗi tháng “trừ” lương 2 triệu đồng nhưng cô Dung nói chỉ lấy 1 triệu đồng mỗi tháng. Vậy là vợ chồng già có cái nhà nhỏ để ở” - ông Hạnh kể.
Nhà ông Hạnh cất trên một góc nghĩa địa, xung quanh vẫn còn nhiều mồ mả. Ngay lối vào nhà là một cái mả đá chắn ngang. Hỏi ông ở đây có buồn không, ông Hạnh cười hiền: “Người sống cầm súng đối đầu nhau còn chưa giết nhau, còn ngồi được với nhau thì mình sống gần người chết cũng đâu có hề gì. Tôi ở đây và cảm thấy vui, hàng tháng lại thuê xe đi TP.HCM họp hành, thăm con cháu. Tôi dự tính sống chừng 10 năm nữa, lúc đó nhà báo khỏe thì cứ ghé chơi với tôi” - ông Hạnh chia sẻ.

*
*  *

 PHỤ ĐÍNH 2

  • VỊ TƯỚNG GIÀ TRONG NHÀ DƯỠNG LÃO -    Huy Phương/Người Việt -

“Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời!”

(Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai)

DALLAS - Một người bình thường lúc về già sống cô đơn trong nhà dưỡng lão đã là một chuyện buồn, một vị tướng lãnh đã từng bao năm trận mạc, hôm nay sống trong một nhà dưỡng lão quạnh hiu đã gây không ít cho chúng tôi những cảm xúc bùi ngùi đau xót khi đến thăm ông.

Cùng với anh Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt-Dallas, chúng tôi đến thăm Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai vào một chiều Chủ Nhật mùa Ðông tại “Pleasant Valley Healthcare and Rehabilication Center, 1525 Pleasant Valley Rd., Garland, TX 75040.” Khi chúng tôi bước vào phòng, thấy ông đang ngồi trên chiếc xe lăn, ông cho biết đang thay y phục, nên chúng tôi tạm lui ra chờ. Khi trở lại, ông đã tươm tất hơn trong bộ đồ mới.

Ký giả Huy Phương và Thiếu Tướng Giai trong nhà dưỡng lão ở Dallas Ft Worth tháng 12, 2015
. (Hình: Thái Hóa Lộc)

Nhận ra anh Lộc là người quen, thường thăm viếng ông, ông vui vẻ chuyện trò và nhờ chúng tôi đẩy ông ra ngoài phòng khách ngay lối ra vào, nơi mà các y tá có thể quan sát. Ở đây đã có nhiều ông bà già hiện diện, tất cả đều ngồi xe lăn. Ðây là một thói quen của ông, mỗi chiều, hoặc là ngồi đây vui hơn, hoặc là ông đang chờ ai đó, có thể vào thăm ông. Vào chiều Chủ Nhật, nhưng tôi không thấy có một thân nhân nào đến thăm những bệnh nhân ở đây, ngoài chúng tôi đang ngồi với Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai.

Ông chuyện trò rời rạc, khi đáp những của thăm hỏi của tôi, là người khách lần đầu đến thăm ông.
Lúc còn khỏe và tỉnh táo, trí nhớ tốt, mỗi tuần ba ngày, ông đến sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên tại thành phố Garland.

Bà Ðỗ Kế Giai qua đời vào tháng 11, 2012 sau khi ông vào bệnh viện được ba tháng. Từ bệnh viện, ông được chuyển thẳng về trung tâm này.

Ông bà có tất cả bảy người con, một gái và sáu trai. Bốn người đều ở các tiểu bang xa, chỉ còn lại ba người con trai ở gần ông. Hiện nay, ông còn có thể tự ăn uống và lo chuyện vệ sinh cho mình. Ông đã ở đây hơn ba năm, và tỏ bày: “Ở đây buồn quá!”

Những vị cao niên nằm trong viện dưỡng lão như hoàn cảnh của ông, còn nhớ chuyện này chuyện nọ, còn biết buồn, biết vui, có lẽ cảm thấy khổ hơn là những người đã mất trí nhớ hoàn toàn.

Hình Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai 42 năm về trước. (Hình: Gia đình cung cấp)

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai sinh năm 1929 tại Bến Tre, trong một gia đình điền chủ, ông theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên Quân Ðà Lạt, ra trường vào tháng 4, 1952, và đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, đóng tại Bắc Việt.

Lần lượt ông đã giữ các chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 2 Nhảy Dù (1962), tham mưu trưởng Sư Ðoàn 25 BB, tư lệnh Sư Ðoàn 10 BB (tiền thân của SÐ 18BB-1966). Năm 1967 ông mang cấp bậc chuẩn tướng. Năm 1972, ông là chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân và được vinh thăng thiếu tướng vào tháng 4, 1974.

Ngày 28 tháng 4, 1975, Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình ông đi Mỹ, nhưng ông quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời ông đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa ông cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm ông mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo và Chuẩn Tướng Thiếu Tướng Lê Văn Thân.

Ông và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 và định cư tại thành phố Garland, Texas.

Theo lời kể của anh Thái Hóa Lộc, không phải là thân thích của ông, người vẫn thường ghé thăm ông, cho biết ông thích ăn các thức ăn Pháp và thích nhâm nhi chút rượu, nếu có thể. Lúc còn khỏe, ông cũng sẵn sàng nói chuyện xảy ra trong thời loạn lạc, một số chi tiết về Ðại Tướng Cao Văn Viên liên quan đến vụ đảo chánh 1963, cái chết của Thiếu Tá Nhung và một số chi tiết nhưng ông yêu cầu không nên đưa lên báo chí.

Bây giờ có chuyện nhớ chuyện quên nhưng ông cho biết vào mùa Ðông thân thể thường đau nhức, “chỉ có Wishky mới trị nổi thôi,” điều mà bác sĩ hoàn toàn cấm, nhưng đôi khi các cô y tá cũng thông cảm cho ông, khi biết ông xưa kia là một tướng lãnh.

Ông tâm sự với chúng tôi, là ông đã nghĩ đến ngày ra đi và không sợ chết. Ngày ông mất, xin nhờ bên anh em thuộc binh chủng Nhảy Dù lo chuyện hậu sự cho ông tươm tất là ông cảm thấy mãn nguyện rồi.

Ông đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ dài ông đã làm trong nhà tù Bắc Việt sau 9 năm bị giam cầm (khoảng năm 1984.) Bài thơ dài 65 câu, lời thơ đầy bi phẫn, xót xa của một tướng lãnh thất trận và là của một người tù không bản án, vô vọng không có ngày về.

Chỉ trong vòng mười lăm phút, ông đã đọc đi đọc lại cho chúng tôi nghe bài thơ này ba lần, điều này chứng tỏ ông đã đi vào thời kỳ lú lẫn. Anh Thái Hóa Lộc cho tôi biết, ông thường vào thăm ông, mang thức ăn cho ông, và lần nào, anh Lộc cũng nghe ông đọc bài thơ này. Ông cho biết trong nhà tù ông đã làm bài thơ và ghi nhớ trong đầu, đọc đi đọc lại nên thuộc nằm lòng, mà không dám viết ra giấy.

Trong khi Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đọc đi đọc lại bài thơ viết trong nhà tù Việt Bắc, chúng tôi đã ghi âm lại và chép ra để các chiến hữu và độc giả hiểu được phần nào tâm sự của ông, một vị tướng già, thất trận đang sống những ngày cuối cùng xa quê hương, lẻ loi trong một nhà dưỡng lão xa lạ. Vì khuôn khổ của trang báo, chúng tôi chỉ xin trích một đoạn trong bài thơ của ông, bài thơ chưa đặt tên:

...“Ý thức hệ miền Nam kiếp nạn
Chín năm (1984) cố quốc dạ nào quên.
Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy
Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.
Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời.
Mài gươm rồi để hận đời
Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.
Oán thế nhân, xin đừng trách nữa
Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.
Ðem xương máu học bài đắt giá
Chi đem thành bại luận anh hùng.

(Ðỗ Kế Giai-1984)


LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com

Trở Về