T  H  Ờ I   -   S Ự


NHỮNG HUYỀN TRÂN THỜI ĐẠI
  
LÃO MÓC -        


Dẫn nhập: Ngày 15 tháng 2 năm 2017, cảnh sát Malaysia thông cáo bắt giữ nghi phạm Đoàn Thị Hương trong vụ án ám sát ông Kim Jong-nam, anh cùng cha khác mẹ với lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-un tại phi trường quốc tế Kuala Lumpur.  Đoàn Thị Hương sinh ngày 31 tháng 5 năm 1988 tại xã Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, con của ông Đoàn văn Định.

Đây là lần đầu tiên “một Huyền Trân thời đại” là một phụ nữ Việt Nam đã “bị” trở thành một nạn nhân của một  vụ án giết người!

Bài viết sau đây sẽ trình bày những thảm cảnh Huyền Trân thời đại do Cộng Sản Việt Nam gây ra sau 42 năm cai trị đất nước. 


Sử viết:

Công chúa Huyền Trân là con của vua Trần Nhân tông, năm Tân Sửu (1301) được vua cha hứa gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, khi Chế Mân sai người đem sính lễ  đến cưới thì triều thần không thuận. Năm Bính Ngọ (1306) Chế Mân tình nguyện dâng hai châu Ô và Rí làm lễ sính, vua Trần Anh tông (anh công chúa) thuận gả để lấy hai châu ấy sau đổi tên là Thuận Châu và Hoá Châu. Năm 1307, Chế Mân chết, vua Anh tông sai Trần Khắc Chung giả mượn tiếng đến thăm, tìm cách đem công chúa về nước để tránh nạn hỏa thiêu theo phong tục Chiêm Thành.

Về chuyện này, người đời sau khen vua Trần Anh tông biết dùng nhan sắc của em gái mình mà… mở mang bờ cõi; nhưng cũng có người mỉa mai vua Chế Mân của Chiêm Thành vì mê nữ sắc đã đem đất đai của tổ quốc mà dâng hiến cho ngoại bang qua hai câu thơ:

“Hai châu Ô, Rí vuông nghìn dặm

Một gái Huyền Trân giá mấy mươi?”

Ca dao có câu mỉa mai chuyện này một cách rất ý nhị như như sau:

“Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho thằng mán, thằng mường nó leo!”

Và người đời cũng tỏ ý thông cảm với số phận hẫm hiu của công chúa Huyền Trân:

“Tiếc thay hạt gạo trắng ngần

Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm!”

Đó là số phận của một phụ nữ phải đi lấy chồng xa thời phong kiến.

*


Thời những người miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nhà thơ Tố Hữu, con chim đầu đàn của “nền văn chương cũi sắt” đã làm bài thơ “Cô gái sông Hương”

“Trên dòng Hương giang

Em buông mái chèo

Trăng lên,

Trăng đứng,

Trăng tàn.

Đời em với chiếc thuyền nan xuôi dòng

Bao giờ hết nhục dày vò năm canh

Bao giờ vào bến rời dòng dâm ô?

*

Răng không! Cô gái trên sông

Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài

Thơm như hương nhụy hoa lài

Sạch như nước suối ban mai giữa dòng

Ngày mai gió mới ngàn phương

Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân.”

 

Trên đây là một trích đoạn trong bài thơ “Cô gái sông Hương” được in trong tập thơ “Từ ấy” của nhà thơ VC Tố Hữu. Ông này cũng cao ngạo giống như cái cao ngạo của Hồ Chí Minh khi đề thơ ở đền thờ anh hùng Trần Hưng Đạo: “Bác tôi, tôi bác…”

“Bác đưa một nước qua nô lệ

Tôi dẫn năm châu tới đại đồng…”

Ông cai thầu văn nghệ Tố Hữu lại đòi “so dây” cùng với Tố Như tiên sinh:

“Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân

Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều…

Ngẫm người xưa của ta nay

Khúc xưa xin lại so dây cùng Người”.

 

Nhưng nếu thái-sơn-lục-bát Nguyễn Du quả là một nhà  tiên tri với đức khiêm cung khi hạ bút hai câu thơ:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?!”

(Tạm dịch:

“Ba trăm năm nữa. Sau cùng

Biết ai thiên hạ khóc dùm Tố Như?!


Và quả tình là ba trăm năm sau đã ứng nghiệm: nhiều người đã cùng khóc với Tố Như tiên sinh và khóc dùm cho thân phận của nàng Kiều!

Nhưng, cuộc đời của “cô gái sông Hương” mà ông cai thầu văn nghệ của “nền văn chương cũi sắt” Tố Hữu tiên đoán thì đã không thể “rời dòng dâm ô” thì làm cách nào mà đến được “một vườn đầy xuân” – như ông ta đã đoan chắc.

Thân phận của những bé gái, những cô gái, những thiếu phụ… trên đất nước Việt Nam thời xã nghĩa còn bi đát hơn thời “cô gái sông Hương”, thời mà những người lãnh đạo miền Bắc Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Việt Nam, thời mà những văn nghệ sĩ và chiến sĩ của chế độ hãnh diện là những người:

“Một thuở mang gươm đi mở nước

Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”.

Cùng với số phận miền Nam, số phận của cả dân tộc đã không “hiện thực” như lời hứa năm nào của Hồ Chí Minh: “Đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng gấp mười ngày nay!”. “Lời hứa” của Hồ Chí Minh chỉ đúng cho những người lãnh đạo đảng VC mà hiện nay họ đã trở thành “giai cấp tư bản đỏ”.

*


“Cánh đồng bất tận” là một truyện ngắn của nhà văn miền Nam Nguyễn Ngọc Tư. Nhân vật truyện là một người làm-đàn-bà-để-sống. Khác với thời “sa đoạ” của Mỹ, Ngụy, là những cô thôn nữ lên thành thị vì sa cơ, lỡ bước phải làm-đàn-bà-để-sống. Người thiếu phụ làm-đàn-bà-để-sống trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư lại là người từ thành phố về miệt ruộng với những “cánh đồng bất tận” để hành nghề. Tình địch của người đàn bà đã trả thù một cách vô cùng ác độc bằng cách đổ keo vào “dụng cụ để hành nghề” của người đàn bà. Người đàn bà được chị em cô gái là nhân vật chính của câu chuyện đem về ghe để cứu chữa. Cha của hai chị em cô gái là một người đàn ông bị mặc cảm vì bị vợ bỏ. Chuyện éo le là cậu con trai của ông ta lại yêu người đàn bà làm-đàn-bà-để-sống. Sau cùng, người đàn bà đã bỏ đi cùng cậu con trai. Và, trên “cánh đồng bất tận” đầy bùn, nước và rơm rạ, người đàn ông đã cay đắng, thúc thủ nhìn con gái của mình bị những kẻ xấu hãm hiếp.  

*

Từ bài  thơ  “Cô gái sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu đến người-làm-đàn-bà-để-sống trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, số phận của những đàn bà, con gái Việt Nam càng bi đát và thê thảm hơn nhiều.

Có những bé gái 5, 10 tuổi đã được bán qua Kampuchea để hành nghề… khẩu dâm. Có những phụ nữ đã phải trần truồng sắp hàng để các đàn ông Đài Loan, Nam Hàn lựa chọn như mua heo, mua gà. Có những phụ nữ đã phải đến Đài Bắc để “cung phụng tình dục” cho cả gia đình kẻ đã “cưới” mình. Vì quá ô nhục, có người đã phải mượn cái chết để kết liễu đời mình. Có những thiếu nữ đã phải khỏa thân trong tủ kính để khách hàng chọn lựa.   

Thời Việt Nam Cộng Hoà, bà luật sư Ngô Bá Thành đã hãnh diện tuyên bố: “Tôi là thành phần thứ ba” sau 57 tháng tù và lập ra Hội Phụ Nữ Đòi Quyền Sống giữa lòng chế độ Sàigòn. Bà này rất nổi tiếng với câu tuyên bố để đời: “Bọn sĩ quan Ngụy đáng lẽ phải đem ra xử bắn, Cách Mạng cho đi cải tạo là nhân đạo lắm rồi!” Hội Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Thành, sau khi VC chiếm cả nước ra sao thì đồng bào đã thấy rõ.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, sau khi “cách mạng” thành công đã được “cách mạng” lợi dụng trong “vụ kiện chất độc màu da cam” , đã xin ra khỏi Đảng cũng đã thấy rõ hơn ai hết chuyện “xuống cấp thê thảm” của phụ nữ trong “chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa!”

*

Thái-sơn-lục-bát Nguyễn Du đã để nàng Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường để sau đó được cứu thoát để cùng Kim Trọng ngâm nga câu thơ:

“Chữ trinh còn một chút này

Chẳng cầm cho vững, lại vầy cho tan”

để rồi “thì tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ” và cùng nhau cám ơn

“Trời còn để có hôm nay

Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời”.

*

Sau 42 năm cưỡng chiếm miền Nam., VC đã thành công trong công cuộc “hạ giá” phụ nữ xuống ngang hàng súc vật!

*


-Năm 2009, cô Thanh Lan, một cô gái miền Nam, qua “môi giới hôn nhân” đã lấy chồng Đại Hàn với hy vọng giúp đỡ cha mẹ già yếu bệnh tật. Không ngờ lại bị gạt vào động mãi dâm. Trước khi tự tử đã để lại “Bức thư tuyệt mệnh” và được nhà thơ Nguyễn Đình Hoài Việt chuyển thành thơ lục bát và được nhạc sĩ Lê Huy Phong phổ nhạc. Nội dung như sau:

“Chấp tay lạy mẹ con đi

Lấy chồng Hàn Quốc ra đi không về

Ngày mai con phải xa quê

Mẹ ơi có biết con tê tái lòng

Mùa Xuân chết giữa mùa Đông

Vu quy phó thác theo dòng thời gian

Tưởng rằng làm vợ Đại Hàn

Thoát vòng nô lệ sướng hơn quê nhà

Kiếm tiền giúp đỡ mẹ cha

Qua cơn bệnh hoạn tuổi già khó khăn

Đâu ngờ môi giới hôn nhân

Bán con vào động Đại Hàn mại dâm

Ngày làm vú ở giữ em

Tối trời là phải đi đêm với người

Thân con là món đồ chơi

Trời ơi thân xác rã rời lá hoa

Muốn tìm cơ hội trốn xa

Làm sao thoát khỏi tú bà ác ôn

Thôi đành liều chết là hơn

Nhảy lầu tự vận mong còn thoát thân

Cúi xin cha mẹ ban ân

Thứ tha tội lỗi cho con được nhờ

Khẩn cầu Trời Phật hải hà

Rước con vào cõi ông bà Thiên Thai”.

 

– Tháng 7 năm 2010, ông Lee Myung-bak, Tổng Thống Nam Hàn đã bày tỏ “sự tiếc nuối sâu xa” về trường hợp cô dâu Việt Thái Thị Hồng Ngọc mới 20 tuổi, chỉ mới đặt chân lên Nam Hàn có 8 ngày thì bị người chồng người Nam Hàn 47 tuổi bị bệnh tâm thần đánh và đâm đến chết. Cũng theo tin báo chí thì thân nhân của cô dâu bất hạnh này sẽ được bồi thường một số tiền.

 

-Trong lúc Đảng và Nhà Nước ta hân hoan chào mừng thắng lợi cuộc Bầu cử Quốc Hội lần thứ 13, thì một phụ nữ VN bị người chồng Hàn quốc đâm 53 nhát dao chết ngay tại nhà. Người chồng họ Im, 37 tuổi đã dùng dao giết chết vợ VN Hoàng Thị Nam 23 tuổi. Vụ việc xảy ra tại huyện Jeongto, tỉnh Kyeongsang Bắc lúc gần 2 giờ sáng địa phương. Người chồng khai nhiều lần vợ đòi ly hôn và muốn bế con ra khỏi nhà trong đêm 23 tháng 5 đã dưa đến chuyện thảm sát. Vụ án đang tiến hành.

*

Bao nhiêu phụ nữ Việt Nam vì hoàn cảnh phải đi lấy chồng xa đã được “may mắn” như cô Hồng Ngọc?

Bao nhiêu phụ nữ Việt Nam đã phải làm nô lệ tình dục cho cả gia đình nhà chồng và đã bị đưa vào động mãi dâm  đã phải nhảy lầu tự tử?

Bao nhiêu bé gái vị thành niên bị gia đình “bán” phải hành nghề “khẩu dâm” và cuộc sống đang chết dần mòn trong những ổ mãi dâm ở Kampuchea?

Sau cô Đoàn Thị Hương bị trở thành nghi phạm trong vụ án giết người, người phụ nữ nào sẽ là nạn nhân kế tiếp trong tương lai? 

Hỡi các phụ nữ Việt Nam hãy vùng lên để GIÀNH LẠI QUYỀN SỐNG CỦA CHÍNH MÌNH.

*

Ai đó đã vô cùng chí lý khi cho rằng: “Chế độ VC không thể THAY ĐỔI mà phải THAY THẾ!”

LÃO MÓC

*
*  *
 

PHỤ BẢN

MÓN HÀNG… “ĐÀN BÀ VIỆT NAM” !! -    PHAN NGUYÊN LUÂN

 

Một bài phóng sự được đặc phái viên của Pháp đưa lên “Mổ xẻ” trên đài truyền hình France Television/France 2 đã làm phẩn nộ đồng bào Việt trong nước lẫn hải ngoại. Trước hết, người xem có cùng cảm xúc trái tim bị co thắt lại vì xót xa cho phận đàn bà Việt Nam sống dưới chết độ của người Việt cộng. Chúng ta hãy nhìn lại, ngoài Chế Độ Cộng Sản thì chưa có một triều đại nào từ thời lập quốc Việt Nam của Vua Hùng Vương đến ngày nay mà Phụ Nữ Việt Nam bị khinh rẻ tàn mạt đến như vậy.. 1000 năm bị giặc Tàu đô hộ, dân tộc ta, người Phụ Nữ cũng không bị bán thân, đẩy ra hải ngoại làm tôi tớ như món hàng. Và gần đây nhất trên 100 năm bị giặc Pháp đô hộ, phụ nữ vẫn bình yên sống, những năm phát xít Nhật xâm chiếm, phụ nữ Việt Nam cũng không bần cùng, 21 năm chiến tranh Nam Bắc, phụ nữ Việt Nam cũng chưa bao giờ bị khinh miệt như vậy. Thế thì… tại sao Việt Nam sau 42 năm không còn tiếng súng, hòa bình trên khắp quê hương, mà người Phụ Nữ bị rao bán một cách nghiệt ngã tang thương? Như vậy, chúng ta khẳng định Việt Cộng là thủ phạm bán nước, hại dân, đẩy đồng bào ra nước ngoài làm lao công để trừ nợ, và đẩy phụ nữ, rao bán phụ nữ cho ngoại bang một cách tinh vi để thủ lợi riêng… (Phan Nguyên Luân)

Sau dây là bài phóng sự được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Pháp, nói về chuyện tổ chức bán đàn bà VN cho người Tầu. Thú thực, tôi không dám coi  hết, như không có đủ can đảm nhìn vết thương nhầy nhụa trên thân thể mình.

Phóng sự chiếu trên TV cùng ngày với đám tang ông Stéphane Hessel (Tổng thống Pháp chủ tọa ), tác giả cuốn Indignez-vous ! (Hãy Nổi Giận ).. Nếu cùng với việc bán nước, chuyện bán đàn bà cho người Tầu không làm chúng ta nổi giận, chắc chúng ta sẽ chấp nhận bất cứ sự sỉ nhục nào.

 Không ưng được đổi lại (bài viết này đề cập đến đề tài đường dây buôn bán phụ nữ V.N sẽ được chiếu trên TV Pháp). Khán giả ti vi ở Pháp sẽ được coi một chương trình đặc biệt, một phóng sự hình ảnh về đề tài, nạn mua bán đàn bà Việt Nam đưa sang Trung Quốc (Les Branches esseulées: Trafic de femmes vietnamiennes en Chine). Nhà bình luận Ngô Dân Dụng, nhận định một cách khá chi tiết về sự kiện “mua đàn bà Việt Nam” qua tựa đề “Les Branches esseulées” dịch nguyên văn hai chữ Hán mà người Tầu phiên âm là “Guang-gun,” đọc lối Hán Việt là “Quang Côn..” Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy, có thể dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài” (Truyện Kiều). Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa. Trong từ điển Hán Việt ghi nghĩa thông dụng nhất của từ này: Quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, thường gọi là ế vợ.


Hai nhà báo công ty truyền thông CAPA, Patricia Wong và Gaël Caron, đã bỏ mấy tháng trời theo dõi một chàng trai người Trung Hoa đi mua vợ ở tận vùng gần Sài Gòn, Việt Nam, cách xa làng anh ta 3,500 cây số. Tên anh ta là Xiao Lu, 30 tuổi, chưa có vợ bao giờ. Anh làm công nhân đồn điền trà, ở một làng tên là Ting Xia. Tìm trong các mạng ở Trung Quốc thấy có làng trồng trà có tiếng tên là Thôn Ðình Hạ. Chương trình Quang Côn này sẽ được chiếu trên đài France 2. Hai nhà báo đi theo anh Xiao Lu trên con đường thiên lý tầm thê đó. Nhưng bài phóng sự cũng mô tả chung nạn mua bán đàn bà con gái từ các nước Việt Nam, Lào, Miến Ðiện và Indonesia, để đưa sang Tàu.

Trước đây đã nhiều nhà báo viết về nạn buôn phụ nữ Việt Nam bán sang Tàu, như trên tờ Wall Street Journal đã kể câu chuyện một cô quê ở Nam Ðịnh bị bán sang Quảng Ðông. Cô phải sống ở một làng miền núi, bị gia đình chồng và cả hàng xóm của họ canh giữ nghiêm ngặt không cho trốn đi. Sau cố lén gửi được thư cho gia đình tại Việt Nam, rồi một người anh trai lặn lội đi tìm được làng cô ở và bày mưu cứu cô về. Năm 2004 hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer viết cuốn sách tiếng Anh mang tựa đề “Bare Branches,” Cành Trụi, dịch sát hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu ế vợ, do nhà xuất bản Ðại Học MIT in.

Bản tin loan báo chương trình Quang Côn, Les Branches esseulées, cho biết những “cô dâu” được “nhập khẩu” qua Tàu, trên nguyên tắc để làm vợ cho các quang côn, những cành cây trụi lá; nhưng họ được đem bán như bán nô lệ. Sớm muộn họ sẽ chạm mặt với thực tế phũ phàng, khác hẳn những gì được ông chồng tương lai hứa hẹn. Họ sẽ lao động cực nhọc ở các làng quê hẻo lánh, ngoài việc lo sinh đẻ. Nhiều cô dâu đã tìm đường trốn đi, nhiều cô đành chịu đựng số phận.

Hai nhà báo Patricia Wong và Gaël Caron bắt đầu chương trình với cảnh mua vợ của Xiao Lu tại vùng phụ cận Sài Gòn. Các quang côn được tập trung tại một khách sạn; họ bị ngăn cản không cho đi đâu, vì bọn lái buôn đã tịch thâu giấy thông hành, hộ chiếu của họ. Rồi họ được đi xem mặt hàng, là các cô gái Việt Nam tuổi ở 20. Một chuyến đi mua vợ như vậy tốn khoảng 5,000 đồng Euro, vào khoảng 8,000 đô-la Mỹ; những cô còn trinh được trả giá cao hơn. Giống như các siêu thị và cửa hàng bách hóa lớn ở Mỹ, khách tiêu thụ không hài lòng với các “món hàng” này có thể đem đổi lấy món hàng khác tương đương,“échangeable” trong nguyên văn. Bọn buôn người gồm cả người Tàu và người Việt.

Trong gian phòng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên là Thu Yến, một cô gái quê sợ sệt, nhút nhát. Hai người không thể nói chuyện gì với nhau cả vì ngôn ngữ bất đồng. Tất nhiên không ai mở miệng nói đến chữ “yêu.” Mấy ngày sau, họ về làng của cô gái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long làm lễ cưới, một nghi lễ không có giá trị pháp lý. Sau đám cưới, bà mối người Tàu tên là bà Vương (Wang) đưa cho Thu Yến hộ chiếu với visa nhập cảnh Trung Quốc. Mấy ngày sau, Thu Yến về đến nhà chồng, ở một làng trong một thung lũng hẻo lánh; mọi người chung quanh nói thứ tiếng cô không hiểu được.

Trung Quốc có rất nhiều đàn ông ế vợ, một phần vì chính sách của Mao Trạch Ðông chỉ cho phép mỗi cặp vợ chồng có một đứa con, áp dụng cho phần lớn nhưng không phải tất cả dân Trung Hoa. Vì mong có con trai nối dõi, nhiều người đã giết chết các trẻ sơ sinh con gái, nhiều nhất là ở miền quê; gây ra cảnh trai thừa gái thiếu hiện nay.

Theo báo Nhà Kinh tế (The Economist, March 6, 2010), đầu năm 2010 Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ năm (5) thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về.” Con số này tính ra dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “thặng dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là họ không thể nào có vợ – trừ khi nhập cảng phụ nữ hoặc xuất khẩu đàn ông!

Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên cùng tuổi ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ.. Trong lịch sử loài người, trong thời gian không có chiến tranh, chưa bao giờ một nước nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng xấp xỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.

Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao xấp xỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và Trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.

Tỉnh Quảng Ðông, ở sát nước ta, là nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai. Ðến năm 2025, 2030, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ.. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh trù phú nhất Trung Quốc này, mà có độ dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?

Chương trình ti vi trên đài France 2 chắc sẽ làm các khán giả người Pháp kinh ngạc. Nhưng đối với khán giả người Việt Nam thì chắc đó cũng là một mối sỉ nhục. Trong lịch sử nước ta chưa bao giờ có cảnh phụ nữ được đem bày hàng để bán, với điều kiện “không hài lòng thì đổi” để tận tình phục vụ người tiêu thụ. Chỉ dưới chế độ “ưu việt” kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay mới biến các cô gái thành hàng hóa xuất khẩu như vậy. Nhưng sau khi cảm thấy tủi nhục, người Việt Nam còn lo ngại nữa.

Có một quy luật dân số học, trong quá khứ, nhận thấy rằng các nước nhiều thanh niên ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Khi dân số nước đó tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, số thanh niên trai tráng nhiều hơn, đa số trong tuổi lao động bị thất nghiệp, quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì chiến tranh có thể giúp giải quyết cả ba vấn đề một lúc: thất nghiệp, dân số đông, và đàn ông ế vợ. Chính quyền một quốc gia quá đông “quang côn” thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư.. Nếu không, đám thanh niên “bức xúc” và bất mãn đó sẽ dùng thời giờ không làm việc để gây tội ác, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì, khi kinh tế suy yếu, người cầm quyền thường gây chiến.

Ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình mới nhậm chức đã gia tăng ngân sách quân sự, tỷ số gia tăng lớn quá đến nỗi Bắc Kinh phải lên tiếng giải thích, khi nhiều quốc gia tỏ ý lo ngại. Ông Tập Cận Bình tăng ngân sách quốc phòng chỉ để mua chuộc các tướng lãnh Trung Quốc? Hay ông đang lo trước vấn đề do 35 triệu quang côn sẽ gây ra trong mười năm sắp tới?

Kiếp đàn bà của dân tộc Việt chúng ta đang sống trong nước coi như đã là “món hàng trao đổi, mua bán” cho ngoại bang nay đã trở thành bình thường. Phụ nữ Việt Nam chưa bao giờ bị khinh bỉ, rẻ rúng như ngày nay. Việt cộng đã làm cho tổ quốc mục ruỗng, chế độ cộng sản đã đưa phụ nữ nói riêng và đồng bào Lạc Việt nói chung đi vào con đường bế tắc, và dân tộc trở thành nô lệ chỉ còn là thời gian… Nếu vẫn còn thơ ơ với sự tồn vong đất nước!

Không lẽ dân tộc Lạc Việt đã chuẩn bị cho… dấu chấm hết ?!!

PHAN NGUYÊN LUÂN

Hy vọng các đài truyền hình Việt nam hải ngoại có cơ hội trình chiếu thiên phóng sự.
Bạn có thể coi phóng sự trên website của FRANCE TELEVISON, đài FRANCE 2, chương trình ENVOYE SPECIAL. Người Pháp kinh ngạc trước màn ảnh truyền hình vì tưởng rằng chế độ nô lệ đã chấm dứt trên thế giới.

XEM VIDEO LES BRANCHES ESSEULÉES

MUA BÁN ĐÀN BÀ VIỆT NAM phóng sự đài TV A2 do TVPARIS 13

*  *

Trở về