T I N   V I Ệ T - N A M 06.07.2008
  •  Đọc Báo CSVN  Saigon Tiếp Thị :Thấy gì trong bản báo cáo của nhóm Harvard?
Nợ của 70 tập đoàn và tổng công ty nhà nước vào tháng 12.2007 là 28 tỉ USD, bằng 40% GDP. “Nếu đúng như thế, thì hệ số nợ/GDP của Việt Nam hiện nay đã lên tới 100% GDP”  ( GDP : gross domestic product = Tổng sản lượng quốc nội = tổng sản lượng quốc nội hay GDP  là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian  một năm)
Theo TinParis, thì các " chóp bu CSVN "  chia chác với nhau để " thâm lạm công quỹ "  và người dân sẽ nai lưng ra trả . Đã nghèo lại đi đến chổ chết đói !

 
trích tứ :http://www.sgtt.com.vn/detail23.aspx?newsid=36855&fld=HTMG/2008/0703/36855
Ngày 04.07.2008 Giờ 13:46

 
Bản báo cáo số 2 của nhóm học giả Harvard về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam được phép công bố chính thức ngày hôm nay, trong khi đồng thời ở Hà Nội, các chuyên gia kinh tế hàng đầu của Việt Nam và các tác giả cũng có kế hoạch thảo luận sâu về những chủ đề chính nêu trong đó.
 
Bản báo cáo có nhan đề “Vượt qua khủng hoảng và tiếp tục đẩy mạnh cải cách”, được gởi lên Chính phủ 45 ngày trước, cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải “những thách thức nghiêm trọng nhất” kể từ sau Đổi mới. Các tác giả ghi nhận Chính phủ đã bày tỏ quyết tâm kiềm chế lạm phát và khôi phục ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng những hành động cho mục tiêu này nhìn chung chưa có hiệu lực.
 
Trong khi đó, bản thân báo cáo này cũng gây tranh cãi trong một số các học giả và quan chức của Việt Nam, mà SGTT có cơ hội tiếp cận hôm qua.
 
Ông Trần Đình Thiên, viện phó viện Kinh tế Việt Nam bình luận: “Bản báo cáo này là rất đáng tin cậy về định hướng. Cách đặt vấn đề của họ là hoàn toàn đích thực và mang tính tổng thể. Nó thể hiện tầm nhìn dài rộng và đề ra các hệ giải pháp căn bản”.
 
Trong bản báo cáo, các học giả Harvard đề ra 10 điểm để khôi phục nền kinh tế, bao gồm siết chặt chính sách tài khoá, tăng dần lãi suất, không cấp phép thành lập mới ngân hàng thương mại nội địa trong 12 tháng, tăng cường hệ thống giám sát và báo cáo của hệ thống ngân hàng, chấm dứt việc Nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay, thực hiện kiểm toán độc lập với tất cả các tập đoàn nhà nước,…
 
Một tác giả của báo cáo đề nghị không nêu tên cho rằng, điều đáng mừng là các nhà hoạch định chính sách đã thực hiện một số trong 10 khuyến nghị trên vòng hơn một tháng qua, ví dụ như nâng trần lãi suất, và nỗ lực cắt giảm đầu tư công.
 
Ông Thiên nói thêm rằng, nhìn chung 10 gợi ý này là giống nhóm 8 giải pháp kiềm chế lạm phát mà chính phủ đang tích cực triển khai. “Các giải pháp của họ là tích cực, mặc dù còn cần bàn thêm về những vấn đề cụ thể, và bước đi, về cách phối hợp". Ông Thiên cho rằng, các đề xuất của nhóm Harvard, và cách Chính phủ đang thực hiện các giải pháp là “đang đi đúng hướng”.
 
Báo cáo, trích dẫn số liệu của bộ Tài chính, cho rằng nợ của 70 tập đoàn và tổng công ty nhà nước vào tháng 12.2007 là 28 tỉ USD, bằng 40% GDP. “Nếu đúng như thế, thì hệ số nợ/GDP của Việt Nam hiện nay đã lên tới 100% GDP”, và “thực trạng tập đoàn nhà nước thậm chí còn đáng lo ngại hơn tình trạng của các tập đoàn tư nhân ở Hàn Quốc hồi 1997”, báo cáo viết.
 
Tuy vậy, cho đến gần đây, bộ Tài chính cho rằng vốn huy động của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước tới 514 ngàn tỉ đồng, gồm cả các khoản vay trong nước và nước ngoài trong năm 2007 là không vấn đề gì. Trả lời phỏng vấn gần đây, ông Trần Xuân Hà, thứ trưởng bộ này nhận xét: “Con số này so với vốn chủ sở hữu chỉ có tỷ lệ 1,36%, là tỷ lệ không cao”. Ông cho biết thêm, theo kinh nghiệm quản lý tài chính doanh nghiệp quốc tế, thì tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu khoảng 3% là có thể chấp nhận được.
 
Nợ của 70 tập đoàn và tổng công ty nhà nước vào tháng 12.2007 là 28 tỉ USD, bằng 40% GDP. “Nếu đúng như thế, thì hệ số nợ/GDP của Việt Nam hiện nay đã lên tới 100% GDP”  ( GDP : gross domestic product = Tổng sản lượng quốc nội = tổng sản lượng quốc nội hay GDP  là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian  một năm)

Thêm nữa, các doanh nghiệp nhà nước và một số tập đoàn đầu tư 7.370 tỉ đồng vào các lĩnh vực mở rộng như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản. “Đây là con số không nhỏ, nhưng lại là không lớn nếu so với tổng giá trị về tài sản và vốn chủ sở hữu của họ”, ông Hà nói. Con số đầu tư ra ngoài ngành chiếm 2,16% so với vốn chủ sở hữu, và chiếm có 0,92% so với giá trị tài sản doanh nghiệp.
 
Các chuyên gia Harvard nhận xét thêm, trong năm nay nhập siêu của Việt Nam có thể lên đến hơn 30 tỉ USD, bằng 40% GDP. Theo kinh nghiệm quốc tế, họ viết, thâm hụt thương mại chỉ bằng nửa mức này (20% GDP) đã bị coi là nguy hiểm.
 
Tuy nhiên, theo thứ trưởng Công thương Nguyễn Cẩm Tú, dự báo về điểm này của bản báo cáo có thể hơi quá, nếu căn cứ vào thực tiễn của tháng 6 vừa qua cũng như sáu tháng đầu năm nay là 14,7 tỉ USD. Một chuyên gia của viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cũng đồng quan điểm này của ông Tú, cho rằng, mức nhập siêu có thể sẽ giảm dần trong các tháng cuối năm nay, trong bối cảnh các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn.
 
Thứ trưởng Tú nói: “Dự báo của họ chỉ là dự báo mà thôi, và chỉ mang tính chất tham khảo. Tôi thấy nhiều khi họ thoát ly thực tiễn ở Việt Nam”.*
 
Nhóm nghiên cứu Harvard nói rằng, họ không đồng tình với các báo cáo công bố đầu năm nay của các định chế tài chính như Morgan Stanley, Deutsche Bank, nhưng cũng khuyến cáo rằng, Chính phủ nhất thiết phải khôi phục lại niềm tin của công chúng và của thị trường.
 
Bản báo cáo này được hoàn thành ngày 19.5 vừa qua theo đề nghị của chính phủ Việt Nam trong khuôn khổ của chương trình Đối thoại chính sách nhằm phân tích những thách thức của nền kinh tế Việt Nam và trong tương lai. Bản báo cáo đã nhận được hỗ trợ của bộ Ngoại giao và Liên hiệp quốc tại Việt Nam.
 
Tư Hoàng


Tinparis chú thích. 
CSVN rất có lý  khi cho rằng  đám chuyên  viên kinh tế Harvard  " thoát ly khỏi thực tiển VN "  vì  các chuyên viên nầy chỉ dựa  vào các tài liệu  xuất phát từ VN  , và thông thường, những tài liệu nầy được " tô hồng " hơn là "bôi đen". Do đó , tình trạng " thực tiễn " ở VN còn tê hơn nhiều  nếu không nói là " BI ĐÁT " và  " HẾT THUỐC CHỮA ".