Giới thiệu "Tình Lính Duyên Thơ "  - Tuyển tập Thi ca Lưu vong
 
Do Võ Đức Trung thực hiện - Nhóm Văn Hóa Pháp Việt ấn hành 2008
    
  ĐÔI DÒNG TÂM SỰ  CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH VỚI DUYÊN THƠ. - Võ Đại Tôn ( Hoàng Phong Linh )

Vượt không gian hơn nửa vòng trái đất từ Pháp quốc sang tận vùng trời Úc Châu, bưu điện đã đem đến cho tôi một gói sách nặng hơn hai trăm trang giấy lớn với biết bao bài Thơ Lính. Tôi choáng ngợp trước công trình quý hiếm của người sưu tầm, đã nâng niu từng dòng chữ đánh máy, và hơi thở cũng như huyết mạch tâm hồn của hàng trăm tác giả, kết tụ từ một giai đoạn oan khiên nhưng hào hùng của Dân Tộc. 

Thời gian dường như ngưng đọng trong hồn tôi. Tôi lo ngại trước lời yêu cầu của anh Võ Đức Trung với những dòng thâm tình kèm theo: “Việc làm Văn Hóa dù ở lĩnh vực Thi Ca là một việc làm có tính trường kỳ dai dẳng. Do vậy, tôi nghĩ anh cần làm trước những việc khẩn cấp mà anh đang quyết tâm thực hiện, nhưng vẫn mong anh viết cho những dòng tâm sự…”.

Tôi là một người lính già, xuyên suốt cuộc chiến chinh, nhưng vẫn chưa tự cho phép mình giải ngũ vì  tôi vẫn còn biết đau niềm đau của Tổ Quốc, và vẫn còn đang tiếp bước lên đường. Tôi lại càng không phải là một nhà làm Văn Hóa chuyên nghiệp, không phải là người  nghiên  cứu  bình  luận  Thi Ca, biết làm sao thể hiện được tấc lòng qua công trình sưu tập vĩ đại này? Tâm hồn thủy chung vẫn nguyên vẹn như một thuở nào, nhưng khả năng thì hạn hẹp và công tác đấu tranh trực diện với bạo quyền đang hủy diệt Văn Hóa Dân Tộc vẫn còn ngổn ngang trước mặt.

Trong đời của mỗi người chúng ta, riêng đối với người Lính mỗi khi ngừng bước hành quân trên những nẻo đường gai góc nào đó, tận một chân trời hoang vu – dù trên vùng đất Mẹ - cũng chợt ngâm nga một vài câu thơ, hát lên, dù lạc điệu, một vài đoản khúc, để tự diễn tả nỗi lòng bâng khuâng, thương mình, nhớ Em và yêu cả quê hương. Ngâm thơ, hát nhạc, nhưng lại quên tên tác giả, thực là điều thất lễ, vì tâm sự bất chợt đến như một hơi thở nhẹ, một rung động âm thanh từ cây đàn bỏ quên trong tận cùng huyết mạch.
Có lẽ tác giả đã tự hóa thân thành chính chúng ta, hòa nhập từ một lúc nào, thay chúng ta để viết thành lời, tạo thành cung phím, còn lại là một sự cảm thông mầu nhiệm trong đời. Xin cúi đầu nhận tội đã quên.

Cũng như bây giờ, khi viết lời tâm sự mở đầu trang sách, một tuyển tập kết tụ từ Tiếng Lòng của hàng trăm tác giả vượt Thời Gian, một tập hợp âm điệu không đóng khung qua kích thước cân đo của lẽ thường tình, làm sao tôi có thể diễn tả được hết nỗi niềm? Thông thường, cần trích đoạn từ tinh hoa của mỗi tác giả, nhưng nếu trích đoạn của một vị này mà không trích đoạn vị khác thì lại càng mang tội thất lễ trong nghĩa tình thi hữu với nhau. Nếu trích cho đủ từ hàng trăm bài thơ thì biết sao cho cùng? Lại xin một lần nữa cúi đầu nhận lỗi, và xin để người đọc tự mình hòa nhập tâm tư cùng tác giả.
Tôi chỉ mong được viết lên đôi dòng tâm sự, có thể gọi là tản mạn, chập chờn qua nghĩ suy chợt đến chợt đi, của một người lính đã biết làm thơ. “Làm thơ”  mà “biết” - (như tay thợ đục đẽo, gọt dũa từng tấc từng ly tấm gỗ vô tri) -  thì lại càng không đúng với nghĩa thi ca, chỉ mong nhận được đôi điều cảm thông cũng chợt đến chợt đi từ các bậc Thầy và quý Bạn.  

Trong đêm thanh vắng tại vùng trời Úc Châu xa xôi này, nhưng lại cận kề với quê hương, qua làn khói thuốc thủy chung trải từ mấy chục năm nay, tôi ngồi trầm ngâm trước màn ảnh máy vi tính, đưa dòng tâm tư qua từng ngón tay gõ nhịp. Biết viết gì đây, cho thỏa lòng, và đáp ơn tri ngộ cùng anh Võ Đức Trung và quý Bạn?

Hai câu thơ lại chợt đến với tôi:

            Hồn lính còn vương trên tóc bạc 
 Anh nhớ sa trường, Em có hay ?”
 (Lại xin nhận lỗi quên tên tác giả). 

Sa trường tôi nhớ, không phải là chiến trận của những người bộ đội sinh Bắc tử Nam xuyên suốt quãng đời thanh niên bị nhồi sọ dưới cặp mắt soi mói của từng tên chính ủy, để vung tay “giết, giết nữa” hoặc “thề uống máu quân thù”. Quân thù hôm qua và ngay trong hiện tại, đối với bao thế hệ từ bên kia vỹ tuyến,  là đồng loại, cùng chung Một Bọc Trăm Con, chỉ vì không cùng chung chính kiến. Từ đó đã tạo thành oan khiên qua một dòng lịch sử. Và cũng từ đó, sa trường chỉ nhuộm toàn máu đỏ, vũng lầy hoen ố biết bao dòng đời không vì lẽ sinh tồn của Dân Tộc. Văn-Thơ của đảng là những thanh sắt thép đúc chung một lò, và nguồn cảm hứng từ tình cảm cá nhân là điều cần tiêu diệt.
Sa trường và hồn lính còn vương trên tóc bạc của tôi đêm nay, là nghĩa tình đồng đội, chắt chiu trao gửi cho nhau từng hơi thở bảo vệ Quê Hương. Luôn cả máu, không phải để nhuộm đỏ một vùng trời với tham vọng giành thế độc tôn cai trị cho riêng một chế độ, mà chính là dòng máu từ những trái tim Nhân Bản lan chảy cùng nhịp thở Non Sông.
Người Lính từ bên này chiến trận, từ một thuở sa trường, đã mang tâm hồn lãng mạn-cách mạng theo từng bước quân hành. Cũng có những đêm trăng treo đầu súng nhớ về hậu phương, theo bước chân Em từ sân trường phượng đỏ, và chỉ mong một ngày nào trao gửi lại cho các thế hệ mai sau những quả tim không bằng thép mà bằng máu Con Người. Để Em biết cười vui vì quả tim không bị nung trong lò sản xuất theo khuôn cố định. 
Có một lần tôi viết:

“Xin trao về cho thế hệ tương lai   
 Để hiểu rằng chúng tôi đổ máu
Suốt một đời chiến đấu   
 Vì Lẽ Sống Con Người !”.

             Thơ Lính và Tình Lính xuất phát từ tâm hồn của những con người không đeo mặt nạ. Nhị trùng bản ngã hòa chung thành một, Người Lính và Người Thơ hiên ngang nhưng đôn hậu, chân chất như thửa ruộng bờ đê đồng thời cũng vươn cao lên đỉnh ngọn Trời Tình. Từ đó, nhịp cùng hơi thở Núi Sông đi dựng lại Tình Người.
Trong thế hệ còn sót lại từ mùa Thu toàn dân kháng chiến chống Pháp theo đúng nghĩa vì Dân Tộc (lúc chưa bị chủ thuyết lọc lừa), và cũng còn sót lại qua bao cuộc chiến chinh và lao tù – do chính đồng loại tự gọi là kẻ chiến thắng dựng lên khắp miền đất nước từ hơn ba mươi năm qua – đêm nay, tôi đọc tuyển tập Tình Lính mà nhớ  lại quãng đời ấu thơ...

Bên kia dòng sông Thu Bồn, sau lũy tre làng. Dưới ánh trăng vằng vặc, sương lạnh rợn người qua tiếng cựa mình của khóm tre già, bốn bề im vắng không còn một tiếng chó sủa vì lệnh tiêu thổ kháng chiến.  Ngồi bên cạnh cha già, tôi là đứa trẻ lên mười đã mồ côi mẹ. Mẹ tôi đã bị chính những người Cộng Sản trong hàng ngũ Việt Minh giết chết dã man vì tội tiểu tư sản, có nhà cho quân Pháp thuê. (Câu chuyện riêng tư còn dài). Tôi lắng nghe người cha ngâm thơ, qua giọng đặc khàn:

  “Chín tầng gươm báu trao tay 
  Nửa đêm truyền hịch,
   định ngày xuất quân!”.

 Tôi chẳng biết xuất quân là gì nhưng bỗng mơ ước một chuyến  ra đi.  Rồi  cũng từ đó,  mỗi  buổi  chiều chạy quanh đường làng, tôi lại vác “đòn tre nặng trên vai – Làm súng giả, bắn quân thù ngã gục”. Tôi đã mơ làm lính ngay từ thuở chập chững vào đời, với giấc mộng đầy ánh trăng thơm, vác trên vai gốc tre Phù Đổng. Làm lính vì Dân Tộc, vì nợ ân tình với Núi Sông.
Từ lúc trưởng thành, nhập ngũ, sau những cuộc hành quân, tôi lại trở về hậu phương, còn mang theo những dòng thơ viết vội từ chiến trường. Viết cho bạn đồng đội đã gục ngã, máu còn hoen thâm màu áo trận:

     “Rồi một hôm mày lại nằm xuống trước
       Mắt mở trừng to như muốn hỏi: Tại sao? 
      Tại sao mày chết – khi mày chỉ ước ao 
      Trông thấy mẹ già, đàn em, xóm nhỏ?”.

 Rồi tôi lại cúi đầu lắng nghe tiếng nhạc trầm buồn, thay tiếng nấc thê lương của bao người vợ trẻ:

    “Chiều nay đi nhận xác chồng 
     Hay đi để thấy mình không là mình”.

Đời Lính qua Thơ Lính chỉ dệt lên những giấc mộng bình thường, chỉ hoài mơ làm đẹp thêm nghĩa tình Quê Hương, chưa bao giờ có được:

     “Những buổi dừng quân,
tao làm thơ mày chép
       Giữa rừng sâu mờ ảo bóng trăng sao 
       Những đêm mưa nằm dưới chiến hào 
       Gối đầu lên mũ sắt
       Mày hay mơ, mộng ngời lên ánh mắt
       Ngày thanh bình trên khắp nẻo quê hương”

Và đến hôm nay:
 Tao xa rồi, có còn ai thăm mộ
Nơi mày nằm cỏ dại lạnh tàn hương
Hay bị phá tan đi,
xây kỹ nghệ công trường?!…

Bao đớn đau chia lìa, máu lệ hòa chung tiếng khóc làm nát lòng Dân Tộc, chỉ vì bạo lực xâm lăng nhân danh chủ thuyết phi nhân. Chủ thuyết đầy hận thù sắt máu này, tận diệt luôn cả giống nòi chung Mẹ, không có chỗ cho Văn Hóa và Thi Ca.  
Những người Lính bên này chiến tuyến - một thời - chỉ là những con người không tên không tuổi mong dựng lại Quê Hương thành tuổi thành tên. Những người Lính đã đem chính thân xác mình làm lá chắn, ngăn chặn bước chân bạo tàn, để rồi phải ngậm ngùi buông súng tan hàng. Thế chiến lược toàn cầu đã được sắp sẵn, từ một nơi nào đó mà người Lính đã không được dự phần quyết định số phận Quê Hương. 
Nền văn hóa Dân Tộc, trong đó có Thơ Tình của Lính trải dài theo bước mộng đi bảo vệ Non Sông, giữ Thơm Quê Mẹ, đã bị “đào tận gốc bốc tận rễ” ra khỏi lũy tre làng và đã bị trồng thay vào đó những khu rừng Duy Vật, làm cho Hồn Thiêng Sông Núi cũng phải bật thành tiếng khóc đau thương.
Ngày mai tôi lại thêm một lần nữa ra đi trực diện với tuyến đường đang cần tiếp bước – không có chiến hào như thuở xa xưa nhưng cùng chung ý nghĩa đấu tranh. Đêm nay, sau khi đọc xong tuyển tập, tôi viết vội đôi dòng tâm sự, gọi là tấc lòng đồng cảm tri âm. Lại thêm một lần nhận lỗi khi không thể trích  đoạn vì  tôi không dám cắt ngang hơi thở nạm vàng của từng tác giả. Máu của từng tâm hồn đã pha màu sáng tạo nên Thơ. Và có lẽ, tôi mạo muội nghĩ rằng tiếng Thơ của quý vị và các bạn đã ngân lên để thay lời Tình của Lính, cũng là chính tiếng lòng của riêng tôi. Hóa thân nhập cuộc, chung một đoạn đời.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, người đã chết trong lao tù Cộng Sản, đã từng thổ lộ qua tác phẩm trao lại mai sau “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử”. Tuyển tập thi ca Tình Lính Duyên Thơ này của biết bao tác giả cũng đang tận hiến một điều nhiệm mầu như vậy. Mẹ Việt Nam đã khóc thương và hãnh diện về những đứa con yêu đã chết và đang mỉm cười âu yếm nhìn những đứa con còn sống để tiếp bước lên đường vì Dân Tộc.

Lời trần tình của Lính để lại nơi đây. Từ chiến trường một thuở, cho đến những bài thơ ấp ủ thầm kín trong tim từ lao tù. Những người Lính ngã ngựa sa cơ mang nỗi nhục buộc phải tan hàng nhưng không hèn đã  mang về Tình Thơ từ những địa danh tận cùng đáy ngục. Một lần nữa, Hoa Thơ đã âm thầm nở trên những vòng kẽm gai hoen máu, từ những địa danh thâm u rùng rợn – không có tình người – nơi rừng Bắc hoang vu. Cổng Trời  nghe máu khóc. Nhưng Tình Lính vẫn còn nguyên vẹn, lời Thơ trở thành Chứng Từ thời đại, hiển lộng bây giờ và mai sau. 

Nhà thơ Phùng Quán từ miền Bắc cũng đã từng viết:

Mỗi lần gục ngã
                     Tôi vịn Nàng Thơ mà đứng dậy”.

Cá nhân tôi, đêm nay cũng đang vịn Nàng Thơ qua Tình Lính của quý vị và các bạn để đứng dậy lên đường, với quả tim không bằng thép. Xin chân thành Tạ Ơn. Riêng với anh Võ Đức Trung và ban sưu tập, xin nhận cho lòng ngưỡng phục của tôi, một người Lính với Tình Thơ viết hoa.

Xin mời quý vị và các bạn hãy đọc tuyển tập thi ca đặc biệt này để tìm lại những nẻo đường kỷ niệm, với cảm thông suy lắng và ngậm ngùi bâng khuâng. Cả một Trời Thơ vương màu áo trận đang mời các Bạn chung lòng, quá khứ nhưng vẫn còn hiện hữu quanh đây.

        Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) 
         Úc Châu, tháng 9 – 2007. 




  • Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
          Tư Lệnh Sư Đoàn V/Bộ Binh

Sĩ quan quả cảm lại thanh liêm
Chẳng đội trời chung lũ Búa Liềm!
Tư Lệnh Sư Đoàn 5 dũng mãnh
Chỉ huy trận mạc rất uy nghiêm
Đương đầu địch thủ, tay mưu lược
Đối diện Đồng Minh, chẳng tị hiềm
Nhật lệnh bàn giao giờ phút chót
Một viên đạn cuối giấc cô miên!

       Hồ Công Tâm
  •      Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện

Không đội trời chung với sói lang
Một còn, một mất, chẳng đầu hàng!
Mắt trừng họng súng, lời đanh thép
Miệng mắng quân thù, dạ sắt gang!
“Cộng sản độc tài, quân cướp nước!”
“Tự Do Dân Chủ..., vẫn hiên ngang!”
Pháp trường nhỏ lệ ngùi thương tiếc
Một tấm trung can tỏ đá vàng!

Hồ Công Tâm
TƯỞNG NIỆM
  Các Đấng Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
  Vị Quốc Vong Thân


  • Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
           Tư Lệnh Quân Đoàn II/Quân Khu II

Hiệp định Ba Lê bán đứng rồi
Đồng Minh phản bội bạc như vôi!
Cao Nguyên triệt thoái còn chi nữa!
Đất nước tan tành mất tới nơi!
Lê kiếp sống thừa trên đất khách
Chẳng thà tử tiết tại đây thôi!
Một chai độc dược vào thanh sử
Danh tướng đời nay dễ mấy người?

Hồ Công Tâm
  • Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam
  Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Quân Khu IV

Danh tướng Khoa Nam rạng sử xanh
Thung dung tựu nghĩa, chết theo thành
Thương dân, chiến cuộc tàn, đâu nỡ
Yêu lính, hòa bình nhục, chẳng đành!
Đời sống không xa hoa vật chất
Ra đi vẫn đảm lược hùng anh!
Một Vì Sao sáng trong đêm tối
Cũng đủ soi cho Nước vận hành!

Hồ Công Tâm
  • Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
        Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV/Quân Khu IV

Sáu chục ngày đêm pháo nổ oành
Chiến hào nồng nặc máu xương tanh
Bốn sư đoàn địch vào công hãm
Một tướng quân ta quyết thủ thành
An Lộc kiêu hùng ghi chiến tích
Bình Long anh dũng rạng uy danh
Còn dân, còn nước, còn hương khói
Dẫu thác, ngàn đời đẹp sử xanh!

Hồ Công Tâm
  •  Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
          Tư Lệnh Sư Đoàn VII/Bộ Binh

Tướng Hưng cùng với Tướng Khoa Nam
Tuẫn tiết theo thành, thác đã cam!
Vận nước suy vi đành thúc thủ
Việc nhà bối rối cũng khôn kham!
Lẽ đâu sống nhục, quên danh dự
Thà được chết vinh, giữ phẩm hàm
Chén rượu hòa tan viên độc dược
Nghìn xưa danh tướng vốn phi phàm!

  Hồ Công Tâm



 
CHU VƯƠNG MIỆN
           
Nguyễn Hữu Đang /PhùngQuán
Vĩnh Biệt ngày 7-8/2/2007

Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh,
Thương số phận Khuất Nguyên Nguyễn Trãi.
Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế
Quý cuộc đời Phạm Lãi Trương Lương.
             [Nguyễn Hữu Đang]

50 năm vạn vật luân thường
biết bao kẻ thác nằm giữa đất
một trăm năm quê hương mình chật vật
từ Tây Tàu Nhật Mỹ Liên Xô
gẫm thương thay cho bức dư đồ
mà ấm Hiếu [Tản Đà] chưa tô bồi lại
cưa làm đôi biên cương Bến Hải
9 năm trường kỳ kháng chiến rừng sâu
từ Cao Bằng cho đến Cà Mâu
đất đôi dẻo đôi miền đánh tiếp
đọc văn chương nhân văn miền Bắc
hết giai phẩm mùa đông mùa xuân mùa thu
bằng hữu thơ văn lũ lượt đi tù
vì không muốn tất cả hoa biến thành vạn thọ
cũng không muốn dối dân [nói không thành có]
cũng không muốn dối đảng [nói có thành không]
thành tích 9 năm bưng biền [theo nước trôi giòng]
kẻ chết kẻ tù kẻ đày lưu xứ
tôi vẫn đi không thấy phố không thấy nhà
chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ [*]

50 năm hai miền ngày cùng khổ
số phận người trên thớt dưới trên mâm
sống phất phơ bám làng xóm điêu tàn
kẻ thống trị lòng lang dạ thú
nạn cường quyền tham ô bán mua hối lộ
trên 60 năm độc lập người chả ra người
quay lại nhìn qua thế kỷ 20
những nhà văn chân tài nhân văn chết hết
ta sinh sau đẻ muộn [không biết nói gì hơn]
đành gửi nơi đây [mấy giòng thơ vĩnh biệt].

[*] Thơ Trần Dần (Chú của Tác giả).

DU UYÊN

Khai Hội Hoa Đăng

Tăng-Nhân-Phú trường xưa buồn rũ bóng.
Những đứa con giờ phiêu bạt nơi nào!
Kể từ tháng tư quê hương dậy sóng,
Các con yêu! Trường Mẹ lệ dâng trào…

Nhớ năm xưa vũ-đình-trường hội ngộ,
Bao chàng trai từ tám hướng về đây.
Theo tiếng gọi tự ngàn năm quốc sử,
Đem tài trai dâng cho nước non này.

Con nắng chói chang nắng vàng Thủ-Đức,
Trong mưa dầm nào ngăn được bước chân.
Làm “lính gác giặc” thâu đêm ráng thức,
Bài “ngụy trang” mặt lọ nghẹ đen sì!

“Tấn công lên đồi” vượt qua ruộng nước
Đôi giày sô dính chặt nhấc không lên,
Đạn mã tử nghe nổ ran trời đất,
Chiếm đỉnh đồi, ngắm mây trời mênh mông.

“Đồi ba mươi” đêm nào về đóng chốt,
Tựa gốc cao su, ngắm xa lộ giăng đèn,
Miếng đắng chát theo đốm  tàn điếu thuốc,
Bóng hình ai hiện trí nhớ thân quen…

Tháng năm xa, nhớ lại thêm da diết,
Con phố buồn ngồi đếm lá me bay,
Giọt cà phê tựa mây trời thăm thẳm
Thế hệ mình theo vận nước đổi thay!

Đêm “di hành” qua Tượng-Ngồi-Thương-Tiếc,
Sao mãi buồn? Anh chờ đợi ai đây…
Anh hiến trọn đời trai cho Tổ-Quốc,
Trước sau gì tất cả sẽ xum vầy.

Đêm Hoa-Đăng vũ-đình-trường khai hội,
Nghĩa-Trang-Đài soi ánh sáng lung linh,
Các niên đệ đứng hầu anh lần chót!
Những anh hùng đã “Vì-Nước-Hy-Sinh!”

Rồi mai này các con rời trường Mẹ,
Chiến trường xa còn nhớ mái trường xưa?
Trong một lần ở địa danh xa lạ,
Lúc dừng quân trong một buổi chiều mưa.

Đến một ngày lệ Mẹ rơi buồn tủi,
Cả đàn con bỗng thảng thốt tan hàng!
Bao máu xương rơi, điểm tô đất tổ.
Trong binh thư nào có đoạn “quy hàng!”?

Hỡi những đứa con năm xưa trường Mẹ,
Hãy nhớ lại lời thề trước lúc ra đi,
TRÁCH NHIỆM vẹn toàn, thệ nguyện còn ghi
Và DANH DỰ những “Chàng trai Thủ-Đức!”.

ĐAN HÀ

Tâm Sự Người Lính Chiến

Tôi vào lính đã mấy mùa thu lá đổ
Quê mẹ bây giờ bom đạn vẫn mù bay
Nhìn lại mình chỉ còn những đôi tay
Với không thấu cuộc tương lai trước mặt

Chinh chiến ngày đêm tâm hồn què quặt
Nên trên đường chỉ cúi nhặt thương đau
Đêm dài thêm khi nấp dưới chiến hào
Bóng tối ấy như tâm hồn tôi đó
           
Có nhiều đêm tâm tư như mở ngõ
Chợt sáng lòa như đóm mắt hỏa châu
Thấy đằng sau bóng tối chợt tan dần
Và trước mặt ánh bình minh rạng rỡ

Lòng mừng chợt nở nụ cười niềm nở
Để đón chào khung cảnh hằng ước mơ
Nhưng giật mình khi chợt biết là mê
Đành cúi xuống lặng nhìn thân áo vải

Và ghì chặt khoảng tâm hồn trống trải
Đến bây giờ và mãi mãi về sau
Cho thương đau không có dịp len vào
Và cấu xé như thuở nào vụng dại

Lòng tôi bây giờ với chút tình còn lại
Tôi đã dâng cho tất cả Quê Hương
Nên ngày đêm ngôn ngữ tôi thường
Ít nói đến lời yêu đương con gái

Dù biết thế khiến tâm hồn trống trải
Thế là mình không nghĩ đến tương lai
Nhưng ngày đêm chinh chiến vẫn kéo dài
Tôi để mặc cho trôi theo cuộc chiến !

Rồi mơ ước ngày tàn cơn binh biến
Tôi sẽ trở về dưới mái nhà xưa
Nơi mẹ tôi theo năm tháng mong chờ
Đứa con vẫn miệt mài thân sương gió

Sẽ vun lại gốc trầu ngoài trước ngõ
Cho leo lên trên mấy ngọn cau xanh
Để mẹ tôi còn ngày tháng yên lành
Bên mái lá khói chiều lên bếp ấm

Tưởng tượng con về mẹ vui nhiều lắm
Quên hết tháng ngày mòn mỏi chờ mong
Nhưng bỗng dưng tiếng sét cháy cả lòng
Đang phủ xuống cõi trời Nam điên đảo

Tháng Tư đến như cuốn theo giông bão
Những ước mơ, những lý tưởng tan tành
Khi nghe tin trên hệ thống truyền thanh
Lệnh buông súng!  Ôi sững sờ điên dại...


HÀ THƯỢNG NHÂN

Ở Quán An Hòa

Chiều nay chợt ghé Vũ Uyên Giang
Nghe gió mùa thu thổi vội vàng
Chẳng biết do đâu mà nhớ lạ
Những chiều mùa hạ nắng chang chang

Gọi Người Yêu Dấu Vũ Quân cười
Hoa cỏ ngàn năm một sắc tươi
Có cả Đông Anh trong tiệc rượu
Tưởng như ngày ấy tuổi đôi mươi

Phan Bá Thụy Dương rộn rả tình
Là đây quán phở Nguyễn Quang Vinh
Người vừa phong nhã vừa mơ mộng
Tóc trắng em bay bỗng giật mình

Có phải là em của thuở nào
Tóc như mây nổi, mắt như sao
Ta từ tiền kiếp đà thương nhớ
Lòng cứ mừng như lớp sóng trào

Ta viết dăm câu bỗng nhớ ra
Từ xưa lụy mãi nợ thi ca
Chữ tài chữ sắc chưa quên được
Thì chẳng đoạn trường cũng xót xa

Nét vẽ như gom cả nước non
Lan Đình người ấy vẫn như còn
Chiều nay nghe trĩu mờ tâm sự
Nuốt vội u hoài mấy chén cơm

Tuy bạn thua nhau hàng mấy giáp
Làm cho ta nhớ lại mình xưa
Mùa Thu Đỗ Phủ vui bằng hữu
Mắt bỗng mờ đi dưới trận mưa

Người ngộ hay là còn chửa ngộ?
Dưới trăng bát ngát chữ phong trần
Ngày xưa giữa trận ai cười đó
Có phải là mình vẫn cố nhân?

Ở quán An Hòa ta gặp nhau
Viết dăm câu gửi những người sau
Người sau có giống như mình nhỉ
Cũng xót xa vì một nỗi đau !

Tháng 5.2006.

    
NHỮ ĐÌNH HÙNG
                             
            Cảm Xúc Khi Đọc Thơ Cao Tần

Thương anh bạn một mình lên đỉnh núi,
Cầm cành khô vạch đất vẽ quê hương,
Ôi anh vẽ bao nhiêu lần cũng vậy,
Mình vẫn kéo dài kiếp sống tha hương!

Thương anh bạn mài hoài thanh kiếm gẫy,
Bao nhiêu năm mòn mỏi dưới trăng lu,
Kiếm đã gẫy, ta dễ gì vùng vẫy,
Bại một lần ôm uất hận nghìn thu!

Và anh nhớ những tháng tư ngày cuối,
Bạn bè thân dăm áo lính ngày xưa,
Ôn lại thuở còn băng rừng lội suối,
Quê người ta mình lây lất bây giờ.

Anh may mắn hãy còn mang theo được,
Thẻ quân nhân, giấy tại ngũ ngày xưa,
Tôi chỉ có mỗi một tờ ra trại,
Nợ quốc gia thôi trả cũng bơ phờ.

Như con tằm ăn dâu rồi nhả tơ.
Đã lỡ mang rồi kiếp lính ngày xưa,
Còn nuôi một tâm tình báo phục,
Lòng trung kiên vị quốc chửa phai mờ.

Cờ chính nghĩa nếu còn mong dựng lại
Đài tự do mơ ước một ngày xây,
Thì phải làm sao anh em họp mặt,
Cho bàn tay nắm lại những bàn tay.

Và còn phải vạch ra đường tranh đấu,
Phải làm gì và làm với những ai.
Đâu nhược điểm và đâu là ưu điểm
Để đường đi tránh bớt những chông gai.

Rồi lại phải biết bền tâm vững chí,
Vận động thời cơ, đáp ứng thế tình!
Một đích nhắm quyết không hề dời đổi
Ai nói gì vẫn giữ một niềm tin!

Điều dễ vậy nếu mà làm không được,
Nói làm gì những mộng ước tương lai,
E lúc tàn hơi xuôi tay nhắm mắt,
Hồn sẽ bay đi theo tiếng thở dài!


  LÂM NAM TRIỀU

Đêm Hạ Lào Trong Tôi

  Trận chiến chiều nay tựa dấu chàm
Ăn mòn từng thớ thịt đường gân
 Tôi như con thú hoang sa mạc
Ngồi cúi đầu trên xác bạn thân

Để thấy thần kinh dưới lớp da
Bấn lên theo tiếng súng A.K
Nỗi kinh hoàng đó hằn sâu hoắm
Trong cõi lòng tôi năm tháng qua

Ngần ấy ưu tư với muộn phiền
Làm sao tôi xác định đây em
Ngày vừa khôn lớn tôi vào lính
Để thấy buồn như phiên gác đêm

Tuổi trẻ bây giờ như chiếc nôi
Cũng không ru trọn giấc đơn côi
Niềm đau bắt rễ vào xương tủy
Chẳng để tôi yên với cuộc đời

Trí nhớ thành ngăn chứa muộn phiền

Tôi ôm khẩu súng ngỡ ôm em
  Bao năm làm lính cho tôi thấy
  Cũng khó mà vơi bấy nỗi niềm

Kê cái ba lô tôi gối đầu
Đêm mùa khô trời mọc đầy sao
Nghe thèm hơi gió thơm mùa rạ
Nhưng biết tìm đâu giữa hạ Lào

Một chút gì đây quá đắng cay
Chiến tranh tàn phá núi sông này
Đêm nay tôi chẳng làm sao ngủ
  Nằm giữa rừng nghe tiếng đạn bay.


  Tình Ca Sông Ba

Mưa sông Ba - nhớ một cuối thu
Đầu anh nón sắt ngỡ che dù
Ở đây còn mỗi niềm thương nhớ
Cũng đã theo em đêm mộng du

Nắng sông Ba - nhớ mãi buổi trưa
Vàng phai kỷ niệm thật không ngờ
Dựa lưng pháo tháp ngồi châm thuốc
Thấy mắt em cười duyên đẩy đưa

Gió sông Ba - nhớ cuối bến sông
Buồn anh theo con nước xuôi dòng
  Làm nhăn mấy lớp hờ trên trán
Ai ở giang đầu ai ngóng trông

Đêm sông Ba - nhớ ánh hỏa châu
Pháo bầy bọn giặc nổ trên đầu
Đạn bom làm ngạt từng hơi thở
Phương mẹ nay chừng nát biển dâu

Trăng sông Ba - nhớ một nửa khuya
Vẫn không giữ được bước em về
Tình xưa giờ chẳng kịp phai nhạt
Nên vẫn tìm nhau cuối bến mê.



NGUYỄN HOÀNG

Lá Cờ Vàng

Mới ngoảnh mặt
Tưởng là hôm qua
Mà đã ba mươi mốt năm rồi cơn ác mộng.
Lớp lớp, lang lang
Hình ảnh nhạt nhòa...
 
Một thoáng trôi qua
Đã trở về trải dài trước mặt.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ đây kia
Cuồn cuộn gọi Sơn Hà
Và ôm gọn
Tứ Hải, Ngũ Châu
Rực rỡ ánh muôn mầu
Che cả Mặt Trời mùa xuân Hải Ngoại.
 
Lá cờ vàng ba sọc đỏ
Sáng hôm nay – Ba Mươi Tháng Tư
Lồng lộng gió Đại Dương
Phủ bóng Tượng Đài.
Và bản Quốc Thiều trang nghiêm trổi dậy
Như mời gọi lên đường.
“Này Công Dân ơi đứng lên đáp lời sông núi,
Đồng lòng cùng đi, đi, tiếc gì thân sống...”
Vang dội bên tai
Lòng nghe thổn
Mắt lệ lưng tròng.
           
Thắm thiết lời ca từng tiếng
Mẹ già rền rĩ thương đau
Như từng giọt máu nóng rót vào hồn.
Chìm trong xúc cảm nguồn cơn
Tôi đứng lặng
Và giật mình
Nhìn những tháng năm dài
Người còn, kẻ mất
Sầu đầy, chất ngất bi ai.
 
Tôi đứng giữa rừng người
Tôi đứng giữa rừng cờ
Tôi đứng giữa anh hồn thiêng Mỹ, Việt
Trông hôm nay
Tôi đã nôn nóng đợi chờ!
Từ bấy lâu nay lòng riêng trăm mối
 
Sao đây không là Sài Gòn?
Sao đây không là Hà Nội?
Con đường về quê còn xa tắp chân bon
Con đường về ngàn trùng chân gối đã chồn.
 
Tôi đứng lặng trong niềm thương, nỗi hận!
Những cặp mắt thắm thiết nhìn tôi
Và đôi mắt ai kia? Ôi đôi mắt sáng ngời!
Vỹ ơi! Ngày nào, quên được Lai Khê
Đối mặt chung bôi
Cùng nhau bàn chuyện, quên sáng gần kề.
Nào kế hoạch nuôi cá, nuôi tôm
Trồng bắp, trồng khoai
Trồng cây so đũa để cấy nấm mèo
Ta sẽ chung vai trong mùa Hậu Chiến.

Mờ ảo khói nhang
Đôi mắt u buồn!
Vỹ ơi! Ngày nào Bến Cát, không quên
Men say bốc ngút ngọn cờ
Lá cờ vàng gói trọn cả hồn thơ.

Quên sao được lời anh:
Chân Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn vẫn đợi
Nhưng tôi đã không về
Để rồi...
Đắng cay trong ngục tù cải tạo
Để chẳng được cùng anh chia sẻ nỗi niềm
Để chẳng được cùng anh hòa máu chung tim
Để chẳng được lá cờ vàng phủ mặt
Để giờ đây sống thân tầm gửi nước người!

Ba mươi mốt năm qua
Sao vẫn như là trước mắt
Ba Mươi Tháng Tư
Một ngày thù hận
Một ngày chết đi, sống lại không quên.

Tháng Tư, 30/2006.




  Địa chỉ liên lạc: Võ Đức Trung -  Email: VOJL72@aol.com